CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP LỜI NÓI ĐẦU Trong thời kỳ mở cửa hiện nay, đặc biệt với sự chuẩn bị cho việc ra nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO, ngày càng nhiều các doanh nghiệp có xu hướng sát nhập thành tập đoàn lớn mạnh nhằm tạo tiềm lực cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài vốn là những tập đoàn lớn và mang tính đa quốc gia. Các doanh nghiệp lớn thường có quy mô vững chãi có thể đứng vững và hoạt động tốt trong điều kiện nền kinh tế ổn định, hoạt động của họ là ổn định, có độ an toàn cao,có bề dày kinh nghiệm, có uy tín trên thị trường và có mức tăng trưởng đều đặn. Trong tương lai gần, số lượng các doanh nghiệp lớn sẽ tăng mạnh vì vậy các ngân hàng thương mại cần có sự chuẩn bị để đáp ứng tốt nhất cho đối tượng khách hàng đầy tiềm năng này. Lợi ích của các doanh nghiệp lớn đối với ngân hàng không chỉ là chiếm dư nợ nhiều nhất, cho ngân hàng nguồn doanh thu cao nhất so với các nhóm khách hàng khác mà còn các mối quan hệ và đặc biệt là các nguồn thông tin khác.
Sau quá trình nghiên cứu và thực tập tại phòng khách hàng doanh nghiệp lớn tại Chi nhánh Ngân hàng Công Thương Hoàn Kiếm, em thấy đây là vấn đề thiết thực và có ý nghĩa thực tiễn cao, vì vậy em chọn đề tài : “ Nâng cao hiệu quả cho vay đối với doanh nghiệp lớn tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm” làm đề tài tốt nghiệp của mình. Bài viết gồm ba phần: - Phần I : Doanh nghiệp lớn và hiệu quả cho vay của ngân hàng đối với doanh nghiệp lớn. - Phần II : Thực trạng hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp lớn tại Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm. - Phần III: Các giảp pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả cho vay doanh nghiệp lớn tại Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm.
SINH VIÊN : ƯNG VIỆT ANH 1 MSSV : CQ440011 Luan van CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP Phần I : DOANH NGHIỆP LỚN VÀ HIỆU QUẢ CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP LỚN. I, Doanh nghiệp lớn : 1. Khái niệm Mỗi một quốc gia có sự khác nhau về điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cũng như pháp luật nên cách phân chia quy mô của doanh nghiệp vì thế cũng khác nhau. Một doanh nghiệp đặt trong điều kiện kinh tế của nước này là doanh nghiệp nhỏ nhưng trong điều kiện kinh tế của nước khác lại là doanh nghiệp lớn.
Vì vậy khi nói đến doanh nghiệp lớn thì ta nên xác định rõ doanh nghiệp đó đang ở trong môi trường kinh tế nào, ở thời điểm nào. Nói một cách khác, ta chỉ có thể xác định được đó là doanh nghiệp lớn khi đặt nó trong một quốc gia cụ thể, tại một thời điểm nhất định.Việc đưa ra một định nghĩa chính xác về doanh nghiệp lớn cho riêng mình có một ý nghĩa quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Thông thường, định nghĩa về doanh nghiệp lớn dựa trên một nhóm các chỉ tiêu định tính và định lượng trong đó các chỉ tiêu định lượng đóng vai trò quyết định phân biệt doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Có ba chỉ tiêu định lượng thường được dùng độc lập hoặc kết hợp với nhau để xác định tính chất lớn của doanh nghiệp: * Lượng vốn đầu tư vào máy móc dây chuyền sản xuất.
* Lực lượng lao động. * Quy mô sản xuất hoặc doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Về mặt định tính, các chỉ tiêu thường được xem xét là cơ cấu của doanh nghiệp, số người quản lý, người ra quyết định, ngành nghề kinh doanh và rủi ro có thể xảy ra. Đối với hầu hết các nước trên thế giới sự phân loại hình thức doanh nghiệp lớn không liên quan đến hình thức sở hữu cũng như tư cách pháp nhân của doanh nghiệp, tức là khái niệm sẽ được áp dụng SINH VIÊN : ƯNG VIỆT ANH 2 MSSV : CQ440011 Luan van CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP chung cho doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty liên doanh.
Dưới đây là một số định nghĩa của các quốc gia tiêu biểu của châu Á và thế giới về doanh nghiệp lớn: Malaixia: Doanh nghiệp được coi là doanh nghiệp lớn nếu doanh nghiệp đó có nhiều hơn 75 công nhân viên, không kể người làm bán thời gian hoặc có số vốn cổ phần nhiều hơn 1 triệu USD. Nhật Bản: Việc phân loại lớn được tiến hành một cách tỷ mỷ cẩn thận: Khu vực Quy mô lao động/ Vốn Sản xuất, khai thác và chế biến >300 người/ 100 triệu Yên Ngành bán buôn >100 người/ 30 triệu Yên Bán lẻ và dịch vụ >50 người/ 10 triệu Yên Philippine: Doanh nghiệp được coi là doanh nghiệp lớn khi tổng tài sản của doanh nghiệp nhiều hơn 60 triệu P. Các nước thuộc cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC): Doanh nghiệp có quy mô lớn nếu doanh nghiệp đó có nhiều hơn 250 lao động, doanh thu hàng năm vượt quá 50 triệu EUR, hoặc tổng giá trị tài sản vượt quá 43 triệu EUR. Tại Việt Nam các doanh nghiệp được coi là lớn nếu vốn điều lệ của doanh nghiệp đó nhiều hơn 10 tỷ VND.
Mặc dù khái niệm doanh nghiệp lớn ở mỗi quốc gia là khác nhau, nhưng ta có thể kết luận rằng thuật ngữ doanh nghiệp lớn là bao hàm một tập hợp các thực thể kinh tế có quy mô lớn nếu xét tren phương diện vốn và lao động so với mặt bằng phát triển chung của nền kinh tế ở mỗi quốc gia nhất định. SINH VIÊN : ƯNG VIỆT ANH 3 MSSV : CQ440011 Luan van CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP 2.1 Hoạt động của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp lớn thường là các doanh nghiệp đã hoạt động lâu năm trên thị trường do đó hoạt động của doanh nghiệp lớn thường ổn định, tăng trưởng đều đặn và ít biến đổi. Các doanh nghiệp lớn với quy mô vững chãi của mình có thể đứng vững và hoạt động tốt trong điều kiện nền kinh tế cạnh tranh mạnh mẽ.
Nếu như những doanh nghiệp vừa và nhỏ với độ linh hoạt cao của mình dễ dàng thích nghi với những biến động của của nền kinh tế thì doanh nghiệp lại gặp rất nhiều khó khăn trong vấn đề này. Doanh nghiệp lớn thường có một hệ thống sản xuất lớn nên khi nền kinh tế biến động thì bộ máy sản xuất cồng kềnh như vậy sẽ không dễ dàng thay đổi để thích nghi với thị trường. Bên cạnh đó doanh nghiệp lớn cũng gặp phải một số khó khăn đó là: bộ máy quản lý nặng nề, thay đổi chậm đối với những thay đổi đột ngột của thị trường. Với ưu thế về quy mô và nguồn lực rất lớn của mình nên doanh nghiệp lớn có thể tham gia vào hầu hết các ngành nghề trong nền kinh tế mà chủ yếu là các ngành nghề quan trọng của quốc gia như: công nghiệp nặng, khai thác khoáng sản, luyện kim, ngân hàng tài chính, bảo hiểm, may mặc.
Các ngành vừa nêu trên là các ngành nghề quan trọng bậc nhất của mỗi quốc gia. Về dịch vụ các doanh nghiệp lớn thường tập trung vào các lĩnh vực như: vận tải liên tỉnh và quốc tế, bảo hành chăm sóc khách hàng, các dịch vụ viễn thông. Thương mại cũng là một thế mạnh của doanh nghiệp lớn: tham gia phân phối sản phẩm, mua nguyên vật liệu trong nước và nước ngoài…Các ngành nghề được nêu ở trên đều là các ngành nghề có số vốn đầu tư ban đầu rất lớn, công nghệ sử dụng cao và độ chính xác lớn, lao động sử dụng thường là lao động có tay nghề cao và lượng sử dụng lao động rất nhiều. SINH VIÊN : ƯNG VIỆT ANH 4 MSSV : CQ440011 Luan van CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP 2.3 Chu kỳ kinh doanh Không giống như các doanh nghiệp vừa và nhỏ có chu kỳ kinh doanh theo mùa, chớp thời cơ nhanh chóng và không ổn định, chu kỳ kinh doanh của các doanh nghiệp lớn thường diễn ra đều đặn và độ ổn định cao.
Việc lập chiến lược phát triển dài hạn cho doanh nghiệp lớn là rất quan trọng và không thể bỏ qua. Các doanh nghiệp lớn thường tập trung vào một số dạng sản phẩm và dịch vụ sau: * Các sản phẩm làm nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất với chức năng là nguyên vật liệu chính của quá trình sản xuất, thường là bộ phận chính của chi tiết lớn trong các ngành: cơ khí, tự động hoá, công nghiệp ô tô, máy bay… Sản phẩm loại này có hàm lượng kỹ thuật rất cao và rất quan trọng. * Các sản phẩm cung cấp năng lượng cho quá trình sản suất như: than, dầu khí, xăng, ga… * Các sản phẩm tiêu dùng thiết yếu như: may mặc, vật liệu xây dựng… * Các sản phẩm dịch vụ như: dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, bưu chính viễn thông… Các sản phẩm dịch vụ này được coi là mạch máu của nền kinh tế mỗi quốc gia.4 Thị trường và cạnh tranh. Do các sản phẩm của các doanh nghiệp lớn là các sản phẩm thiết yếu rất quan trọng của nền kinh tế nên khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp lớn là rất cao.
Các doanh nghiệp lớn thường gặp phải sự cạnh tranh của các doanh nghiệp lớn trong nước cũng như nước ngoài do các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước không có đủ nguồn lực để cạnh tranh. Thị trường về hàng hoá của các doanh nghiệp lớn rất rộng từ thành thị đến nông thôn, từ người giàu đến người nghèo.vì các sản phẩm của doanh nghiệp thường là các sản phẩm thiết yếu cho cuộc sống. SINH VIÊN : ƯNG VIỆT ANH 5 MSSV : CQ440011 Luan van CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP 3. Vai trò của doanh nghiệp lớn.
Doanh nghiệp lớn là một đơn vị kinh doanh không phụ thuộc vào thành phần sở hữu nhưng ở Việt Nam rất nhiều doanh nghiệp lớn là các doanh nghiệp Nhà nước. Trong thời gian qua, doanh nghiệp lớn đã có mặt ở hầu hết các ngành nghề, các lĩnh vực của nền kinh tế và giữ vai trò quan trộng thể hiện ở một mặt sau: * Doanh nghiệp lớn chiếm vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân nắm giữ những ngành then chốt, có những ngành độc quyền. Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, các doanh nghiệp lớn vẫn giữ vai trò chủ đạo bởi nó vẫn tồn tại và phát triển được ở những ngành, những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Do nắm giữ một số ngành, lĩnh vực độc quyền nên những thay đổi trong chính sách kinh doanh của các doanh nghiệp này sẽ làm ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế.