phần mở đầu, lời cam đoan, lời cảm ơn, mục lục, danh mục bảng, biểu đồ, danh mục hình ảnh, sơ đồ, và kết luận, luận văn đƣợc trình bày trong cấu trúc 03 chƣơng, cụ thể gồm: Chƣơng 1: Tổng quan về dịch vụ cho vay và mở rộng cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng mở rộng dịch vụ cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng BIDV chi nhánh Đông Sài Gòn giai đoạn 2019 – 2021 Chƣơng 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộng dịch vụ cho vay KHCN tại Ngân hàng BIDV chi nhánh Đông Sài Gòn 7 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN VÀ MỞ RỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái niệm về cho vay khách hàng cá nhân của NHTM Dịch vụ cho vay của ngân hàng thƣơng mại: là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (ngân hàng/ tổ chức tín dụng khác) chuyển giao một tài sản cho bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Mục 16- Điều 4- Luật số 07/VBHN-VPQH Luật các TCTD 2017 thì Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Dịch vụ cho vay khách hàng cá nhân của Ngân hàng thƣơng mại: Cho vay đƣợc xem nhƣ một mối quan hệ kinh tế mà ở đó theo nhà kinh tế học ngƣời Pháp Louis Baudin định nghĩa là “Một sự trao đổi tài hóa hiện tại lấy một tài hóa tƣơng lai”. Hay tại Việt Nam theo Thông tƣ số 39/2016/TT-NHNN ban hành vào ngày 30 tháng 12 năm 2016 thì cho vay là: “Một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng cho vay giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoản trả cả gốc và lãi. Khách hàng vay vốn tại tổ chức tín dụng là cá nhân có quốc tịch Việt Nam, cá nhân có quốc tịch nƣớc ngoài.” Đối với hầu hết các ngân hàng thƣơng mại, khoản mục cho vay thƣờng chiếm quá nửa giá trị trên tổng tài sản tạo ra từ 50% đến trên 70% nguồn thu của toàn ngân hàng.2 Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân của NHTM Đối tƣợng cho vay. Đối tƣợng cho vay KHCN là các cá nhân, hộ gia đình có 8 nhu cầu vay vốn nhằm phục vụ cho mục đích tiêu dùng hay sản xuất kinh doanh của cá nhân, hộ gia đình đó.
Đây là nhóm khách hàng đầy tiềm năng, đa dạng các thành phần kinh tế, có mức thu nhập đa dạng nên số lƣợng KHCN thƣờng rất lớn. Bên cạnh đó, xã hội ngày càng mở rộng, chất lƣợng và trình độ dân trí của ngƣời dân ngày càng đƣợc nâng cao dẫn đến nhu cầu vay vốn ngân hàng đểcải thiện mức sống gia tăng nên nhu cầu vay vốn của KHCN cũng rất phong phú và đa dạng (Nguyễn Văn Tiến, 2009). Thời gian vay vốn. Thời hạn của khoản vay đối với KHCN rất đa dạng, bao gồm ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn tùy vào mục đích sử dụng vốn vay và phƣơng thức cho vay của khách hàng.
Đối với các khoản vay để bổ sung vốn lƣu động phục vụ sản xuất kinh doanh, thời hạn vay đƣợc xác định phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh và thƣờng là những khoản vay ngắn hạn. Còn đối với các khoản vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng thƣờng có thời hạn trung hạn hoặc dài hạn phụ thuộc vào khả năng đáp ứng của NHTM và khả năng trả nợ của KHCN (Nguyễn Văn Tiến, 2009). Quy mô và số lƣợng các khoản vay. Quy mô mỗi khoản vay của KHCN thƣờng có giá trị nhỏ hơn rất nhiều so với các khoản vay của KHDN.
Xuất phát từ đối tƣợng cho vay là các cá nhân và hộ gia đình với mục đích vay vốn để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh trên quy mô nhỏ lẻ nên số vốn vay từ NHTM không cao. Hơn nữa, khi khách hàng có ý định mua bất kì vật dụng, sản phẩm dự kiến thƣờng có xu hƣớng tích lũy từ trƣớc. Khách hàng tìm đến ngân hang nhằm tìm nguồn vốn bổ sung cho phần thiếu hụt tạm thời. Vì vậy, quy mô mỗi khoản vay đáp ứng cho nhu cầu vốn của KHCN thƣờng không quá cao đối với tài sản của ngân hàng).
Tuy nhiên, số lƣợng khoản vay của KHCN lại lớn hơn nhiều so với KHDN. Quy mô dân số ngày càng tăng, đối tƣợng cho vay KHCN là mọi tầng lớp dân cƣ trong xã hội nên số lƣợng các khoản vay là rất lớn. Vì thế tổng quy mô cho vay KHCN chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng dƣ nợ cho vay của ngân hàng. Chi phí cho vay.
Đặc điểm của cho vay KHCN là số lƣợng khách hàng nhiều, quy mô mỗi khoản vay thƣờng nhỏ, thậm chí không đáng kể, song với số lƣợng khoản vay rất lớn dẫn đến các NHTM phải tốn nhiều chi phí. Để tiếp cận đối tƣợng KHCN trên từng địa bàn khu vực, NHTM phải đầu tƣ kinh phí mở rộng hệ thống mạng lƣới, 9 tiếp thị và quảng bá sản phẩm cho vay. Đồng thời, các NHTM phải đầu tƣ mở rộng nguồn nhân lực có chuyên môn và công cụ hiện đại phục vụ cho khách hàng một cách nhanh chóng. Bên cạnh đó, NHTM mất nhiều thời gian và chi phí thực hiện các bƣớc trong quá trình cho vay từ lúc tiếp nhận hồ sơ, thẩm định khách hàng đến quyết định cho vay, giải ngân và thu hồi nợ.
Hơn nữa do việc cập nhật các thông tin tài chính của khách hàng khó có thể đầy đủ và chuẩn xác, nên các NHTM chấp nhận chi phí cao để giảm thiểu rủi ro, đảm bảo an toàn cho các món vay (Đƣờng Thị Thanh Hải, 2014). Rủi ro tín dụng. Trong cho vay KHCN, số lƣợng khoản vay lớn có thể giúp NHTM phân tán đƣợc rủi ro, tuy nhiên các khoản vay này vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro cao. Việc cập nhật các thông tin tài chính của KHCN thƣờng không đầy đủ và chính xác.
Điều này gây khó khăn trong việc thẩm định khả năng trả nợ của khách hàng. Mặt khác, nguồn trả nợ của khách hàng chủ yếu dựa vào nguồn thu nhập và tình hình tài chính của từng cá nhân, hộ gia đình. Trong quá trình vay vốn, nguồn trả nợ này có thể gặp những biến động không lƣờng trƣớc đƣợc, dẫn đến khách hàng trì hoãn trả nợ hoặc không trả nợ theo thỏa thuận ban đầu đúng thời hạn, gây ảnh hƣởng đến hiệu quả cho vay của ngân hàng. Nhân tố chủ quan có thể là tình trạng “sức khoẻ” tài chính của ngƣời đi vay, công việc làm ăn không thuận lợi gây ảnh hƣởng trực tiếp đến năng lực tài chính của khách hàng, từ đó giảm khả năng thực hiện trả nợ của khách hàng.
Các nhân tố khách quan nhƣ hạn hán, mất mùa, sự suy thoái của nền kinh tế dẫn đến khả năng mất việc cao. cũng là những nguy cơ ảnh hƣởng đến khả năng hoàn trả của khách hang (Đƣờng Thị Thanh Hải, 2014). Lãi suất cho vay. Lãi suất cho vay KHCN phần lớn thƣờng cao hơn các khoản cho vay khác của NHTM.
Nguyên nhân bởi vì các khoản vay KHCN có chi phí lớn và mức độ rủi ro cao. Bên cạnh đó, các khoản cho vay KHCN có mức lãi suất cho vay chƣa linh hoạt. KHCN thƣờng ít “nhạy cảm” với lãi suất, đa phần quan tâm đến khoản tiền phải trả hàng tháng hơn là mức lãi suất ghi trong hợp đồng. Do đó, khác với hầu hết các khoản cho vay kinh doanh lãi suất đƣợc điều chỉnh theo thị trƣờng, lãi suất cho vay KHCN thƣờng đƣợc ấn định tại một mức nhất định.
Đối với các khoản cho vay ngắn hạn, lãi suất đƣợc ấn định ngay từ đầu và không thay đổi cho đến hết thời hạn 10 vay. Đối với những khoản vay trung và dài hạn, lãi suất cho vay thƣờng đƣợc điều chỉnh mỗi năm một lần dựa trên cơ sở lãi suất huy động, cộng với một biên độ nhất định tuỳ theo từng ngân hang (Đƣờng Thị Thanh Hải, 2014).3 Vai trò cho vay khách hàng cá nhân của NHTM Đối với ngân hàng thƣơng mại. Theo Nguyễn Văn Tiến (2019), cho vay KHCN giúp NHTM mở rộng mối quan hệ với khách hàng. Đối tƣợng của cho vay KHCN là cá nhân và hộ gia đình, đây là nhóm khách hàng tiềm năng của NHTM trong nền kinh tế hiện đại.
Nếu nhƣ một khách hàng khi đã sử dụng sản phẩm của một ngân hàng mà ngân hàng cung cấp dịch vụ đáp ứng trọn vẹn nhu cầu chi tiêu còn thiếu hụt về tài chính, khách hàng sẽ cảm nhận đƣợc tiện ích mà chủ thể tài chính đem lại và hoàn toàn có thể sử dụng tiếp những sản phẩm dịch vụ khác của đơn vị một khi có nhu cầu. Đồng thời, số lƣợng khách hàng cá nhân tiềm năng có nhu cầu vay vốn thƣờng rất nhiều, chính vì vậy, khả năng mở rộng nguồn khách hàng của ngân hàng là rất cao. Thực hiện tốt hoạt động cho vay KHCN không chỉ giúp ngân hàng có thêm đƣợc nhiều khách hàng mà còn ở những hoạt động khác nhƣ huy động vốn, thanh toán quốc tế, bảo lãnh. Cho vay KHCN giúp đa dạng hoá hoạt động kinh doanh của ngân hàng, từ đó phân tán rủi ro và gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng.
Do đặc trƣng của hoạt động kinh doanh ngân hàng là rủi ro cao. Vì thế, để giảm thiểu rủi ro, các NHTM áp dụng phƣơng thức đa dạng hóa danh mục đầu tƣ, tránh tình trạng chỉ tập trung vào một loại hình kinh doanh. Bên cạnh đó, cho vay KHCN có số lƣợng khoản vay lớn nhƣng giá trị khoản vay nhỏ nên giúp phân tán rủi cho của ngân hàng, đa dạng hóa sản phẩm. Ngoài ra, đây cũng là hoạt động chính đem lại nguồn thu lớn trong tổng thu nhập của ngân hàng.
Cho vay KHCN giúp các NHTM nâng cao thƣơng hiệu và chiếm lĩnh thị trƣờng. Trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt, các NHTM luôn phải nỗ lực nghiên cứu, tìm hiểu các sản phẩm dịch vụ để đáp ứng tối đa mục đích vay vốn của KHCN một cách hiệu quả, nhanh chóng.