Tổng quan nghiên cứu

Nghệ An là tỉnh có diện tích rừng và đất lâm nghiệp lớn nhất cả nước với gần 1,2 triệu ha, chiếm xấp xỉ 72% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Thực hiện Nghị định số 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), lưu vực thủy điện Khe Bố giữ vị trí địa bàn trọng điểm tại vùng Tây Bắc tỉnh Nghệ An. Tổng diện tích tự nhiên của lưu vực đạt 464.953,51 ha đất lâm nghiệp, bao gồm 240.152,50 ha đất có rừng, trải rộng trên địa bàn 36 xã thuộc 4 huyện Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông và Quỳ Hợp. Đây là khu vực đầu nguồn cung cấp nước trực tiếp cho hệ thống 8 nhà máy thủy điện bậc thang trọng điểm.

Giai đoạn thực hiện chính sách 2012–2015 tại lưu vực bộc lộ nhiều khó khăn mang tính đặc thù. Vấn đề nghiên cứu cốt lõi nằm ở việc xác định ranh giới lưu vực chồng lấn giữa các bậc thang thủy điện, tiến độ giao đất giao rừng còn chậm và việc áp dụng cào bằng hệ số K=1 chưa phản ánh đúng giá trị sinh thái của từng trạng thái rừng. Mục tiêu nghiên cứu tập trung vào việc hệ thống hóa cơ sở khoa học, ứng dụng công nghệ GIS phân định chính xác ranh giới lưu vực và các điểm khai thác nước, đánh giá toàn diện cơ chế chi trả giữa bên sử dụng và bên cung ứng dịch vụ, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả chi trả DVMTR. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn lớn trong việc tạo nguồn tài chính bền vững cho công tác bảo vệ rừng, đồng thời nâng cao thu nhập cho người dân tại khu vực có tỷ lệ hộ nghèo lên tới 19,35%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết chi trả dịch vụ hệ sinh thái (PES) theo định nghĩa kinh điển của Wunder (2005) và Mayrand & Paquin (2004), coi việc chi trả là một giao dịch tự nguyện có điều kiện giữa bên sử dụng và bên cung cấp dịch vụ môi trường. Luận văn kết hợp lý thuyết kinh tế học tài nguyên môi trường nhằm giải quyết vấn đề ngoại ứng tích cực và khắc phục bản chất hàng hóa công cộng của môi trường rừng.

Ba khái niệm nền tảng được vận dụng bao gồm:

  1. Dịch vụ môi trường rừng với các giá trị điều tiết nguồn nước và chống bồi lắng lòng hồ;
  2. Chi trả DVMTR gián tiếp thông qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng cấp tỉnh;
  3. Hệ số K điều chỉnh mức chi trả dựa trên chất lượng rừng, loại rừng, nguồn gốc rừng và mức độ khó khăn trong quản lý bảo vệ.

Tổng quan thực tiễn quốc tế từ 101 chương trình PES tại Châu Mỹ La tinh (tạo ra 31 triệu USD bảo tồn trên 2,3 triệu ha) và hơn 47 chương trình tại Trung Quốc (quy mô 7,8 tỷ USD trên 290 triệu ha) khẳng định sự cần thiết của sự can thiệp từ Nhà nước. Tại Việt Nam, khung pháp lý được hoàn thiện với hơn 20 văn bản quy phạm pháp luật, trọng tâm là Quyết định 380/2008/QĐ-TTg thí điểm tại Sơn La (đạt 12,9% diện tích) và Lâm Đồng (đạt 20,23% diện tích), làm tiền đề cho Nghị định 99/2010/NĐ-CP triển khai toàn quốc.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu nghiên cứu bao gồm bản đồ lâm nghiệp tỷ lệ 1:10.000, số liệu thống kê kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An và báo cáo tài chính, sản lượng điện thương phẩm giai đoạn 2011–2015 của 8 nhà máy thủy điện. Phương pháp điều tra hiện trường sử dụng thiết bị GPS cầm tay định vị tọa độ thân đập và các điểm xả nước, mỗi vị trí bấm lặp 3 lần với khoảng cách 5 phút trong điều kiện thời tiết ổn định nhằm triệt tiêu sai số.

Quy trình phân tích dữ liệu nội nghiệp ứng dụng phần mềm ArcGIS trên nền hệ quy chiếu chuẩn VN-2000 (kinh tuyến trục 104°45’, múi chiếu 3 độ). Mô hình số độ cao DEM kết hợp các công cụ thủy văn (Flow Direction, Flow Accumulation) được sử dụng để phân định ranh giới lưu vực khép kín và bóc tách diện tích rừng cho từng bậc thang thủy điện. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm đảm bảo tính chuẩn xác về mặt không gian địa lý, loại bỏ hoàn toàn sự chồng chéo diện tích giữa các bên hưởng lợi.

Cỡ mẫu điều tra xã hội học gồm 47 đối tượng, được chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích tại 3 xã đại diện thuộc các huyện Kỳ Sơn, Tương Dương và Con Cuông. Mẫu nghiên cứu bao gồm: 30 hộ gia đình cá nhân, 7 tổ chức chủ rừng (đại diện bên bán), 5 nhà máy thủy điện (đại diện bên mua) và 2 cơ quan quản lý gồm Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh cùng Hạt Kiểm lâm cấp huyện. Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA, RRA) được sử dụng để phân tích mức độ đồng thuận và các rào cản xã hội.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, việc số hóa bản đồ đã xác định chính xác tổng diện tích tự nhiên của lưu vực thủy điện Khe Bố là 464.953,51 ha, trong đó diện tích có rừng là 240.152,50 ha. Rừng tự nhiên chiếm tỷ trọng áp đảo với 238.854,16 ha (tương đương 99,46% tổng diện tích có rừng), trong khi rừng trồng chỉ chiếm 1.298,34 ha (khoảng 0,54%).

Thứ hai, nghiên cứu xác lập vị trí tọa độ thân đập Khe Bố tại X: 465.769,00; Y: 2.120.518,02 và làm rõ ranh giới của 7 thủy điện bậc thang liên quan gồm Bản Vẽ, Bản Cánh, Nậm Mô, Nậm Nơn, Nậm Cắn, Yên Thắng và Ca Lôi. Điều này giải quyết dứt điểm sự mâu thuẫn về phạm vi lưu vực và xác định chuẩn xác đối tượng hưởng lợi từ nguồn nước sông Cả.

Thứ ba, việc áp dụng hệ số cào bằng K=1 trên toàn tỉnh Nghệ An theo Quyết định số 4962/QĐ-UBND bộc lộ bất cập lớn. Khảo sát thực tế cho thấy 85% người được phỏng vấn cho rằng việc chi trả cùng một mức giá trên 1,0 ha rừng chưa tạo được sự công bằng giữa rừng phòng hộ xung yếu và rừng sản xuất nghèo, cũng như chưa phản ánh đúng công sức bảo vệ tại các địa hình núi cao hiểm trở có độ dốc từ 25 đến 45 độ.

Thứ tư, chính sách DVMTR đã mang lại nguồn thu ổn định, cải thiện đời sống kinh tế cho các cộng đồng dân tộc thiểu số tại 4 huyện miền núi, nơi dân tộc Thái chiếm 10,13%, Khơ Mú chiếm 1,22% và H'mông chiếm 1,00% dân số.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những tồn tại xuất phát từ việc thiếu hụt cơ sở dữ liệu số hóa đồng bộ và năng lực phối hợp liên ngành giữa lâm nghiệp và công thương trong giai đoạn đầu thực thi chính sách. Về mặt trình bày dữ liệu, các kết quả này có thể được mô hình hóa trực quan thông qua bản đồ chuyên đề ArcGIS phân chia lưu vực bậc thang và biểu đồ cột so sánh tương quan giữa sản lượng điện thương phẩm (giai đoạn 2011–2015) với mức kinh phí ủy thác thực tế của từng đơn vị thủy điện.

So sánh với các nghiên cứu của CIFOR và các báo cáo đánh giá thực thi PES tại Tây Nguyên, kết quả tại lưu vực Khe Bố tái khẳng định tính cấp thiết của việc áp dụng hệ số K phân loại. Nếu duy trì hệ số K=1, chính sách sẽ dần mất đi động lực khuyến khích các hộ nhận khoán bảo vệ những diện tích rừng xung yếu tại vùng cao, nơi chi phí tuần tra và nguy cơ mất rừng cao gấp nhiều lần vùng đồi thấp.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuẩn hóa cơ sở kỹ thuật và ứng dụng công nghệ viễn thám. Hoàn thiện việc tích hợp bản đồ ranh giới 8 lưu vực thủy điện bậc thang trên phần mềm ArcGIS cho toàn bộ 464.953,51 ha lưu vực theo hệ quy chiếu VN-2000. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nghệ An cùng Chi cục Kiểm lâm cần triển khai ứng dụng ảnh vệ tinh giám sát diễn biến tài nguyên rừng định kỳ 6 tháng một lần, hoàn thành số hóa toàn diện trong năm 2017.

Thứ hai, điều chỉnh chính sách xác định hệ số K phân loại. Bãi bỏ quy định áp dụng đồng loạt K=1, xây dựng khung hệ số K tích hợp dựa trên 4 chỉ tiêu: trạng thái trữ lượng rừng (K1), loại rừng theo quy hoạch (K2), nguồn gốc rừng tự nhiên hay rừng trồng (K3) và mức độ khó khăn trong bảo vệ rừng theo điều kiện xã hội, địa hình (K4). Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An cần phê duyệt bộ chỉ số mới trước quý IV/2017 nhằm đảm bảo công bằng 100% cho các nhóm chủ rừng.

Thứ ba, nâng cao hiệu quả quản lý ủy thác và đẩy nhanh tiến độ giải ngân. Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Nghệ An cần tăng cường giám sát hợp đồng ủy thác với 8 nhà máy thủy điện, áp dụng công nghệ thanh toán điện tử qua tài khoản ngân hàng và thẻ ATM cho các chủ rừng tại 36 xã. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ giải ngân kinh phí DVMTR hàng năm đạt trên 95% kế hoạch trước ngày 31 tháng 12.

Thứ tư, lồng ghép nguồn lực phát triển sinh kế bền vững. Ủy ban nhân dân 4 huyện Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông và Quỳ Hợp cần tích hợp nguồn thu DVMTR với nguồn vốn của Chương trình 30a, Chương trình 135 và đề án giao đất giao rừng. Định hướng nâng mức thu nhập từ nghề rừng cho người dân vùng đệm lên thêm từ 15% đến 20% trong giai đoạn 2017–2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước gồm Tổng cục Lâm nghiệp, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng cấp trung ương và tỉnh Nghệ An. Luận văn cung cấp phương pháp luận khoa học và căn cứ thực tiễn để hoàn thiện cơ chế điều tiết tài chính và xây dựng biểu hệ số K phù hợp cho các lưu vực sông liên vùng.

Nhóm doanh nghiệp thủy điện và đơn vị sử dụng DVMTR, đặc biệt là ban quản lý của 8 nhà máy thủy điện trong lưu vực sông Cả (Bản Vẽ, Khe Bố, Nậm Nơn, Nậm Mô). Công trình hỗ trợ các đơn vị nắm rõ quy trình đo đạc lưu vực, minh bạch hóa nghĩa vụ tài chính và nâng cao hiệu quả phối hợp bảo vệ nguồn nước.

Nhóm chủ rừng tổ chức, Ban quản lý rừng phòng hộ và các cộng đồng dân cư nhận khoán bảo vệ rừng tại 36 xã vùng cao. Luận văn là tài liệu hướng dẫn cụ thể về quyền lợi kinh tế, quy trình xác định diện tích 240.152,50 ha rừng được hưởng chi trả và phương pháp quản lý nguồn quỹ công khai tại địa phương.

Nhóm các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học thuộc chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học và Kinh tế tài nguyên. Luận văn đóng vai trò là tài liệu tham khảo giá trị về kỹ thuật xử lý dữ liệu GIS thủy văn kết hợp phương pháp nghiên cứu xã hội học nông thôn.

Câu hỏi thường gặp

Chính sách chi trả DVMTR tại lưu vực Khe Bố mang lại lợi ích tài chính như thế nào?
Chính sách tạo ra nguồn kinh phí ổn định từ 8 nhà máy thủy điện chi trả trực tiếp cho 240.152,50 ha rừng. Nguồn thu này giúp giảm gánh nặng ngân sách nhà nước, đồng thời tạo việc làm và thu nhập đều đặn cho hàng nghìn hộ dân tại 36 xã vùng cao thuộc tỉnh Nghệ An.

Vì sao cần thay thế hệ số cào bằng K=1 bằng hệ số K phân loại đa tiêu chí?
Việc áp dụng mức K=1 khiến rừng tự nhiên giàu và rừng trồng nghèo đều nhận mức tiền như nhau, triệt tiêu động lực bảo vệ rừng tại các địa bàn đồi núi hiểm trở có độ dốc từ 25 đến 45 độ. Áp dụng 4 tiêu chí thành phần (K1 đến K4) sẽ bảo đảm tính công bằng và phân bổ nguồn lực chính xác hơn.

Công nghệ GIS đóng vai trò gì trong việc xác định ranh giới lưu vực thủy điện Khe Bố?
Phần mềm ArcGIS xử lý mô hình độ cao DEM và các hướng dòng chảy để khoanh vẽ tự động đường phân thủy cho toàn bộ 464.953,51 ha lưu vực, bóc tách chính xác diện tích rừng thuộc 8 lưu vực bậc thang, loại bỏ hoàn toàn các sai số đo đạc thủ công.

Cơ chế chi trả tiền DVMTR tại lưu vực bậc thang Khe Bố diễn ra qua hình thức nào?
Tiền chi trả được thực hiện theo hình thức gián tiếp. 8 nhà máy thủy điện nộp tiền dịch vụ ủy thác qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Nghệ An dựa trên sản lượng điện thương phẩm, sau đó Quỹ điều tiết phân bổ kinh phí về các chủ rừng theo diện tích nghiệm thu thực tế.

Chính sách DVMTR tác động thế nào đến đồng bào dân tộc thiểu số tại vùng dự án?
Chính sách tạo nguồn sinh kế bền vững cho các dân tộc thiểu số gồm Thái (10,13%), Khơ Mú (1,22%) và H'mông (1,00%), góp phần giảm tỷ lệ nghèo 19,35% của địa phương và nâng cao ý thức bảo vệ rừng của người dân miền núi.

Kết luận

  • Luận văn đã ứng dụng thành công công nghệ GIS và mô hình thủy văn để xác lập ranh giới 464.953,51 ha lưu vực Khe Bố và bóc tách chuẩn xác 240.152,50 ha rừng cung ứng dịch vụ.
  • Đã giải quyết triệt để vấn đề phân chia ranh giới và xác định nghĩa vụ chi trả của hệ thống 8 công trình thủy điện bậc thang trên lưu vực sông Cả.
  • Luận văn chỉ rõ các bất cập của quy định áp dụng đồng loạt hệ số K=1, tạo cơ sở thực tiễn vững chắc cho việc điều chỉnh chính sách theo 4 tiêu chí định lượng.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp kỹ thuật, chính sách, tài chính và sinh kế được đề xuất đồng bộ cho 36 xã thuộc 4 huyện miền núi Nghệ An giai đoạn 2017–2020.
  • Đề nghị các cơ quan quản lý và các đơn vị nghiên cứu tiếp tục khai thác, nhân rộng mô hình đánh giá lưu vực bậc thang của luận văn cho các hệ thống thủy điện khác trên toàn quốc.