CHƯƠNG 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI BÁN HÀNG ĐA CẤP 1.1 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước 1.1 Khái niệm về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp Quản lý nhà nước đối doanh nghiệp là sự tác động hướng đích của hệ thống chủ thể quản lý nhà nước đến hoạt động của hệ thống các doanh nghiệp bằng các biện pháp, phương pháp và công cụ làm cho hoạt động của hệ thống doanh nghiệp vận hành đúng yêu cầu của các quy luật khách quan và phù hợp với định hướng mục tiêu của nhà nước. Khác với quản trị nội bộ doanh nghiệp, quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp là một dạng lao động đặc biệt. Tính đặc biệt này thể hiện ở hệ thống đối tượng quản lý, hệ thống chủ thể và hệ thống công cụ quản lý. Đối tượng quản lý của nhà nước là hệ thống các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, được phân bổ trên những vùng miền khác nhau thuộc phạm vi lãnh thổ, hoạt động sản xuất, kinh doanh trên mọi ngành nghề, lĩnh vực.
Hoạt động của hệ thống doanh nghiệp này chịu sự tác động tổng hợp của nhiều loại quy luật kinh tế, xã hội, tâm lý và quy luật tự nhiên. Điều này đòi hỏi cán bộ, công chức khi được giao nhiệm vụ thay mặt nhà nước quản lý doanh nghiệp phải có trình độ tổng hợp về việc vận dụng các quy luật trong hoạt động quản lý. Tính đặc thù của hệ thống chủ thể quản lý là một hệ thống bao gồm nhiều cấp, nhiều bộ phận chức năng, đòi hỏi sự tác động của cả hệ thống đó phải đồng bộ, theo định hướng và mục tiêu chung của hệ thống. Cơ quan quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp chủ yếu là Chính phủ với chức năng của cơ quan chấp hành, tổ chức và quản lý doanh nghiệp trong thực tiễn.
Với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước đối với hệ thống các doanh nghiệp. 7 Chính phủ phân cấp, phối hợp quản lý đối với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND các cấp. Doanh nghiệp thực hiện kinh doanh trên nhiều ngành nghề, lĩnh vực; tổ chức sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ trên nhiều địa phương khác nhau, do đó việc phân cấp và phối hợp quản lý theo ngành với theo lãnh thổ là một trong những nguyên tắc quản lý kinh tế. Thực hiện chức năng điều hành quản lý đối với hệ thống các doanh nghiệp, một mặt Chính phủ có nhiệm vụ chấp hành theo Hiến pháp và pháp luật do Quốc hội ban hành, mặt khác khi tổ chức quản lý, việc ra quyết định của Chính phủ và các cơ quan được phân cấp vẫn tiếp tục công tác xây dựng các văn bản áp dụng pháp luật như một hoạt động làm luật.
Quan hệ giữa doanh nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế là một trong những quan hệ xã hội đặc biệt, diễn ra trong lĩnh vực kinh tế, bị chi phối bởi lợi ích kinh tế, vì thế, việc sử dụng các công cụ quản lý vào quản lý doanh nghiệp vừa phải đảm bảo tính nghiêm minh vừa đảm bảo sự linh hoạt trong điều hành nền kinh tế thị trường. Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp chỉ có thể đạt được mục tiêu khi chủ thể khai thác và sử dụng đúng công cụ pháp luật và các kế hoạch, chính sách kinh tế. Các công cụ quản lý này sẽ tác động vào hành vi kinh doanh, lợi ích kinh tế và ý thức nhà quản trị doanh nghiệp, làm thay đổi hành vi kinh doanh của doanh nghiệp phù hợp với mục tiêu của nhà nước.2 Chức năng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp Chức năng của nhà nước thể hiện nhiệm vụ, công cụ, vai trò của nhà nước khi gắn vào hoạt động cụ thể với những đối tượng quản lý cụ thể. Văn kiện Đại hội IX của Đảng đã nhấn mạnh: “Nhà nước tạo môi trường pháp lý thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp cạnh tranh và hợp tác để phát triển; bằng chiến lược, kế hoạch và chính sách kết hợp với sử dụng lực lượng vật chất của nhà nước để định hướng phát triển kinh tế xã hội, khai thác hợp lý nguồn lực đất nước, bảo đảm cân đối vĩ mô nền kinh tế, điều tiết thu nhập; 8 kiểm tra kiểm soát mọi hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật”.
Để tăng cường hiệu lực, hiệu quả, tùy theo yêu cầu, nhiệm vụ của từng giai đoạn mà việc sắp xếp thứ tự ưu tiên và nội dung các chức năng sẽ được thay đổi phù hợp. Xuất phát từ mục tiêu chung của quản lý nhà nước đối với nền kinh tế thị trường hiện nay, để đảm bảo chu kỳ tái sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế hoạt động và phát triển ổn định, tốc độ tăng trưởng cao và đảm bảo công bằng xã hội, đòi hỏi quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp phải thực hiện tốt một số chức năng cơ bản bao gồm: Chức năng định hướng, chức năng tạo lập môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp, chức năng điều tiết thị trường, chức năng thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm. Trong bài nghiên cứu này, tác giả tập trung trình bày chức năng gắn với đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu, đó là chức năng thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm. Doanh nghiệp thực chất tồn tại như một thực thể sống, có sự ra đời, phát triển và ra đi khỏi thị trường khi giải thể, phá sản.
Sau khi đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong suốt quá trình tồn tại và phát triển, doanh nghiệp hoạt động trong các mối quan hệ với nhiều chủ thể khác nhau. Đây cũng là giai đoạn doanh nghiệp cần được kiểm tra, thanh tra để phát hiện, xử lý kịp thời các sai phạm. Thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của luật pháp, tạo khả năng ngăn ngừa vi phạm.
Kết quả thanh tra, kiểm tra có thể phát hiện các nguồn lực tiềm năng, phát triển những sai lệch để kịp thời hoàn thiện và định hướng. Thông qua thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp các cơ quan quản lý nhà nước có thể nhận được sự phản hồi của chính sách, kiểm tra tính khả thi của các quy định. Trường hợp chính sách không còn phù hợp có thể được sửa đổi, bổ sung kịp thời để tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước.3 Nội dung quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp là một trong những nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về kinh tế. Nhà nước quản lý nền kinh tế, kiểm soát các thành phần kinh tế thông qua các doanh nghiệp của họ.
Khác với việc quản lý trong nội bộ doanh nghiệp, quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp là hoạt động quản lý vĩ mô, có nội dung rộng và bao quát. Về cơ bản, nội dung quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp bao gồm một số hoạt động: Thứ nhất, cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhiệm vụ ban hành, phổ biến và hướng dẫn thực hiện các văn bản pháp luật về doanh nghiệp và các văn bản pháp luật có liên quan đến doanh nghiệp. Thứ hai, tổ chức đăng ký kinh doanh, đăng ký ngành nghề hoạt động đặc thù; hướng dẫn việc đăng ký kinh doanh đảm bảo chiến lược, quy hoạch và các kế hoạch định hướng phát triển kinh tế - xã hội. Thứ ba, tổ chức các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao đạo đức kinh doanh cho người quản lý doanh nghiệp; nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, nghiệp vụ cho cán bộ quản lý nhà nước đối với nhà nước, đối với doanh nghiệp; đào tạo và xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề.
Thứ tư, thực hiện chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp theo định hướng và mục tiêu chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Thứ năm, kiểm tra thanh tra doanh nghiệp; xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của doanh nghiệp, của cá nhân và của tổ chức có liên quan theo quy định của pháp luật.2 Cơ sở lý luận về Bán hàng đa cấp 1.1 Sự ra đời và khái niệm bán hàng đa cấp Bán hàng trực tiếp (gồm bán hàng đơn cấp và bán hàng đa cấp) còn gọi là kinh doanh theo mạng xuất hiện đầu tiên tại Mỹ vào đầu Thế kỷ XX. Đến 10 năm 1910, các công ty bán hàng trực tiếp đã cùng nhau thành lập Hiệp hội Bán hàng trực tiếp (Direct Selling Association - DSA) để bảo vệ quyền lợi của mình cũng như quảng bá cho hình thức bán hàng trực tiếp một cách rộng rãi hơn. Có nhiều quan điểm về nguồn gốc ra đời của phương thức này, có quan điểm cho rằng mô hình kinh doanh đa cấp ra đời đầu tiên ở Châu Âu do một nhà đầu tư tài chính ứng dụng mô hình đa cấp trong việc huy động tài chính theo nhiều cấp độ khác nhau, tuy nhiên, đây là mô hình không hợp pháp do vậy về sau không có tài liệu nào nghiên cứu và phát triển về mô hình này.
Theo nghiên cứu của tác giả, sự ra đời của phương thức bán hàng trực tiếp gắn liền với sự hình thành và phát triển của hai Tập đoàn Amway và Avon có trụ sở tại Hoa Kỳ. Theo tài liệu của Tập đoàn Amway và một số tài liệu do tác giả thu thập được, nguồn gốc của phương thức bán hàng đa cấp hay còn gọi kinh doanh theo mạng (Multi Level Marketing – MLM) gắn liền với tên tuổi của nhà hóa học người Mỹ có tên là Karl Renborg (1887-1973). Ông là người đầu tiên đã ứng dụng ý tưởng kinh doanh theo mạng vào trong cuộc sống. Năm 1927, Karl Renborg bắt đầu công việc của mình bằng cách chế biến các chất bổ sung dinh dưỡng.
Trong giai đoạn khởi đầu kinh doanh, để giải quyết khó khăn trong khâu tiêu thụ sản phẩm, ông đưa ra một ý tưởng mà đó có thể là nguyên lý cơ bản cho ngành kinh doanh theo mạng sau này. Karl Renborg đề nghị các bạn và người thân của ông giới thiệu các sản phẩm bổ sung dinh dưỡng này cho người quen của họ, và nếu người quen của họ mua sản phẩm thì ông sẽ trả một khoản hoa hồng cho người giới thiệu. Không chỉ có vậy, ông cũng quyết định trả hoa hồng cho người quen của những người bạn nếu những người này tiếp tục bán sản phẩm trong các mối quan hệ của họ.