Chương 1: Tổng quan đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm chính sử dụng trong mô hình 2. Hành vi nhân viên chia sẻ kiến thức Người nhân viên thường thực hiện những hoạt động liên quan đến công việc, nhiệm vụ được giao tại nơi làm việc. Người nhân viên cũng thực hiện một số hành vi không có tính tự nguyện.
Trong những hành vi tự nguyện (không bắt buộc), các nhà nghiên cứu chú ý đến hành vi nhân viên chia sẻ kiến thức lẫn nhau trong công việc. Khái niệm hành vi chia sẻ kiến thức được định nghĩa như sau: Ipe (2003, trang 32) định nghĩa hành vi người nhân viên chia sẻ kiến thức cho đồng nghiệp là “hành vi để truyền đạt trực tiếp kiến thức cho các thành viên khác trong một tổ chức”. Ở góc nhìn khác, Cabrera và Cabrera (2002) định nghĩa hành vi chia sẻ kiến thức của người nhân viên là “hành vi cho phép người nhận kiến thức sử dụng kiến thức họ nhận được theo ý thích của họ”. Từ định nghĩa của Ipe (2003) và Cabrera và Cabrera (2002), tác giả cho rằng hai định nghĩa trên bổ sung cho nhau, làm rõ về hành vi của người nhân viên trong hoạt động chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm của họ.
Những kiến thức, kinh nghiệm này có được từ quá trình tích lũy của người nhân viên, sau đó kiến thức, kinh nghiệm này được truyền đạt lại cho các đồng nghiệp của họ. Đồng nghiệp khi nhận kiến thức, kinh nghiệm này từ đồng nghiệp thì được phép sử dụng để vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm riêng này vào trong thực tế công việc tại công ty. Thấu hiểu người khác Trotschel và cộng sự (2011) mô tả khái niệm thấu hiểu người khác là “trạng thái mà cá nhân đánh thức các quá trình nhận thức của bản thân nhằm hướng trực tiếp tới các trạng thái tâm lý của những người xung quanh”. Điểm mấu chốt của khái niệm này là nhấn mạnh tầm quan trọng của những nỗ lực trong nhận thức cho phép mỗi cá nhân chủ động vứt bỏ cái tôi để hướng tới nhìn nhận thế giới xung quanh dưới góc nhìn, lăng kính của những người khác.
Nguồn năng lượng Nguồn năng lượng là một trạng thái tâm lý của nhân viên (Spreitzer và cộng sự, 2005). Người nhân viên có nguồn năng lượng sẽ cảm thấy tràn trề năng lượng và đầy sức sống. Trạng thái này giúp cho người nhân viên liên tục muốn cải thiện bản thân và học hỏi thêm những điều mới mẻ. Hành vi lãnh đạo tôn trọng Khái niệm hành vi lãnh đạo tôn trọng xem xét chủ yếu vào một tập hợp những hành vi của người lãnh đạo, quản lý như “cố gắng quan tâm đến sở thích của những nhân viên do họ quản lý, dành thời gian để khám phá quan điểm, cách nhận thức vấn đề của các nhân viên dưới quyền, chuẩn bị để hiểu trình độ nhận thức của nhân viên hoặc hỏi ý kiến người nhân viên trước khi phân công công việc” (van Quaquebeke & Eckloff, 2010).
Cơ sở lý thuyết sử dụng Trong luận văn này, tác giả dựa trên lý thuyết nền là lý thuyết hành vi lãnh đạo tôn trọng (van Quaquebeke & Eckloff, 2010). Lý thuyết này gồm những khái niệm chính như hành vi lãnh đạo tôn trọng, thấu hiểu người khác, đồng cảm với người khác, hành vi tự nguyện của nhân viên. Lý thuyết hành vi lãnh đạo tôn trọng lý giải cách thức mà người lãnh đạo có hành vi lãnh đạo tôn trọng thúc đẩy các yếu tố bên trong của người nhân viên để hướng họ đến các hoạt động mang lại lợi ích cho doanh nghiệp (Gerpott và cộng sự, 2020). Cụ thể như sau: Lý thuyết hành vi lãnh đạo tôn trọng mô tả xu hướng động lực bên trong thúc đẩy các cá nhân xem xét các nhu cầu và sở thích của các cá nhân khác thông qua hai hướng: (1) thông qua thành phần nhận thức của việc thấu hiểu người khác và (2) thông qua thành phần tình cảm của việc đồng cảm với người khác (Gerpott và cộng sự, 2020).
Lý thuyết hành vi lãnh đạo tôn trọng hàm ý rằng không giống như nhiều nghiên cứu khác cho rằng thấu hiểu người khác và đồng cảm với người khác là những xu hướng có tính ổn định, lý thuyết này giải thích rằng các yếu tố môi trường như hành vi lãnh đạo của nhà quản lý có thể tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm mức độ thấu hiểu 10 người khác, cũng như đồng cảm với người khác của người nhân viên dưới quyền. Cách giải thích này cũng được các nhà nghiên cứu về thấu hiểu người khác và đồng cảm với người khác như Parker và Axtell (2011), Nezlek và cộng sự (2001) đồng tình. Sử dụng lý thuyết hành vi lãnh đạo tôn trọng, Gerpott và cộng sự (2020) đã giải thích rằng người lãnh đạo, quản lý thông qua hành vi lãnh đạo của họ như hành vi lãnh đạo tôn trọng tác động vào xu hướng động lực bên trong thúc đẩy các cá nhân xem xét các nhu cầu và sở thích của các cá nhân khác thông qua hai hướng như đã trình bày, cuối cùng sẽ thúc đẩy hành vi chia sẻ kiến thức. Lý thuyết này góp phần lý giải rõ ràng hơn cơ chế bên trong giải thích vì sao các nhân viên sẵn sàng chia sẻ kiến thức của mình cho người khác.
Gerpott và cộng sự (2020) đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm đầu tiên góp phần làm rõ tính đúng đắn của lý thuyết hành vi lãnh đạo tôn trọng, đã đo lường mức độ lãnh đạo tôn trọng, mức độ thấu hiểu, mức độ đồng cảm, và mức độ hành vi chia sẻ kiến thức, cũng như làm rõ mối quan hệ tác động giữa các nhân tố tới hành vi người nhân viên chia sẻ kiến thức. Các nghiên cứu đã công bố có liên quan 2. Các nghiên cứu đã công bố trên thế giới Lý thuyết về hành vi chia sẻ kiến thức đã nghiên cứu được một số nhân tố chính có tác động mạnh đến hành vi này cụ thể như: các yếu tố đặc điểm của cá nhân (học vấn, kinh nghiệm làm việc, tính cách, sự tự tin), các yếu tố động lực như động lực bên ngoài và động lực tiềm ẩn bên trong mỗi cá nhân (niềm tin của người có kiến thức, lợi ích và chi phí, công bằng, tin tưởng, thái độ, chi phí xã hội, tương tác giữa lãnh đạo và nhân viên); các yếu tố tổ chức (hỗ trợ từ ban giám đốc, phần thưởng, cơ cấu tổ chức, hành vi lãnh đạo, văn hóa tổ chức, …) (Ipe, 2003). Wang và Noe (2010) đã tổng kết đánh giá lại như sau (Hình 2.
Khung phân tích tổng quát các yếu tố tác động đến quá trình từ khi có dự định đến khi thực hiện hành vi chia sẻ kiến thức Nguồn: Wang và Noe (2010) Lưu ý: các chữ in đậm là các yếu tố Wang và Noe (2010) đề nghị tiếp tục nghiên cứu. Sau khi Wang và Noe (2010) đề nghị khung phân tích tổng quát các yếu tố tác động đến dự định và hành vi chia sẻ kiến thức của nhân viên trong tổ chức. Các học giả sau này quan tâm khám phá các yếu tố có liên quan đến công nghệ, truyền thông sẽ tác động đến hành vi chia sẻ kiến thức của nhân viên trong doanh nghiệp. Yếu tố công nghệ, truyền thông được quan tâm bởi ngày nay các doanh nghiệp làm việc trong môi trường không gian mạng, các nhân viên giao tiếp dựa trên nền tảng công nghệ thông tin, xử lý công việc thông qua các hệ thống công nghệ thông tin.
Do đó, các nhân viên sẽ thực hiện những hành vi của họ trên trực tuyến nhiều hơn. Đó là lý do mà nhiều nghiên cứu nổi bật được đăng trên tạp chí về quản trị tri thức (Journal of Knowledge Management). Cụ thể: Maheshwari và cộng sự (2020) nghiên cứu tác động của việc các bác sỹ, y tác và nhân viên tại các bệnh viện sử dụng Web 2.0 đối với việc chia sẻ kiến thức trực 12 tuyến, qua nhiều phương tiện công nghệ thông tin trong lĩnh vực dịch vụ y tế tại Ấn Độ. Maheshwari và cộng sự (2020) đã khẳng định mối quan hệ giữa thái độ và dự định, cụ thể khi người nhân viên có thái độ muốn chia sẻ kiến thúc sẽ dẫn tới dự định chia sẻ kiến thức của họ.
Thái độ muốn chia sẻ kiến thức có mối tương quan thuận với sự tự tin và sự có qua có lại. Ngoài ra, yếu tố uy tín và sĩ diện sẽ điều tiết cho mối quan hệ giữa yếu tố thái độ và dự định chia sẻ kiến thức, trong khi yếu tố phần thưởng không điều tiết trong mối quan hệ giữa yếu tố thái độ và dự định chia sẻ kiến thức. Kết quả nghiên cứu này dựa trên câu trả lời của 207 bác sỹ, nhân viên y tế làm việc trong lĩnh vực chăm sóc y tế tại Ấn Độ (Hình 2. Mô hình kiểm định của Maheswari và cộng sự (2020) Yao và cộng sự (2020) tìm thấy văn hóa chia sẻ kiến thức, cấu trúc doanh nghiệp, hành vi lãnh đạo cấp trung và hệ thống quản lý có tác động theo hướng tích cực lên hành vi tự nguyện chia sẻ kiến thức ở dạng tiềm ẩn như bí quyết, kinh nghiệm, kiến thức mới trong lĩnh vực.
Trong khi hệ thống quản lý và hỗ trợ công nghệ thông tin của công ty thường có tác động theo hướng tích cực lên việc chia sẻ những kiến thức có dạng tường minh như kiến thức phổ biến, kiến thức đại trà. Kết quả này được Yao và cộng sự xác nhận dựa trên dữ liệu thu thập từ 457 nhân viên làm việc tại những doanh nghiệp chuyên về sản xuất phần mềm có quy mô vừa và nhỏ của Trung Quốc. Khảo sát được thực hiện online và các giả thuyết của Yao và cộng sự được 13 kiểm định bằng mô hình cấu trúc tuyến tính. Yao và cộng sự đề nghị mô hình như sau (Hình 2.
Mô hình kiểm định của Yao và cộng sự (2020) Zhao và cộng sự (2020) tiến hành tại trường kinh doanh của Trung Quốc. Dựa trên kết quả thu thập của Zhao và cộng sự từ 156 nhân viên, Zhao và cộng sự tìm thấy mối quan hệ giữa các khía cạnh của truyền thông (phân tích, theo dõi, giao tiếp), nhận thức của nhân viên môi trường xung quanh (kiểm soát nội dung thông điệp, nội dung thông điệp, kiểm soát mối quan hệ) và hành vi chia sẻ kiến thức.