phần mở đầu và kết luận cũng nhƣ phụ lục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn đƣợc chia thành 4 chƣơng chính nhƣ sau: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu động lực và tạo động lực của lao động Chƣơng 2. Thực trạng tạo động lực cho NLĐ tại TTHCC tỉnh Quảng Ninh Chƣơng 3. Giải pháp nhằm tạo động lực cho NLĐ tại TTHCC tỉnh Quảng Ninh 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỘNG LỰC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC CỦA LAO ĐỘNG 1.
Khái niệm và sự cần thiết tạo động lực của lao động: 1.1 Khái niệm động lực Hoạt động của con ngƣời là hoạt động có mục đích. Các nhà quản trị cần phải tìm hiểu mục đích làm việc của CBNV là gì, từ đó tìm cách tạo động lực cho con NLĐ trong quá trình làm việc. Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của CBNV để tăng cƣờng nỗ lực nhằm nhằm hƣớng tới việc đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức (Nguyễn Văn Điền & Nguyễn Ngọc Quân, 2007). Đó chính là những nhân tố bên trong kích thích con ngƣời tích cực làm việc để tạo ra năng suất và hiệu quả cao nhất có thể.
Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu cuộc tổ chức cũng nhƣ bản thân CBNV. Một số đặc điểm của động lực đƣợc các nhà quản trị thống nhất nhƣ sau: - Động lực gắn liền với công việc, với tổ chức và môi trƣờng làm việc, động lực không thể không gắn với một công việc cụ thể nào; - Động lực làm việc của mỗi ngƣời là khác nhau nhƣ động lực không phải là đặc điểm tính cách cá nhân; - Thực hiện công việc không chỉ phụ thuộc vào động lực mà còn phụ thuộc vào khả năng của CBNV, phƣơng tiện và các nguồn lực để thực hiện công việc. Vì vậy, không nên cho rằng động lực tất yếu dẫn đến năng suất và hiệu quả công việc. Động lực chỉ giúp CBNV làm việc tốt hơn; NLĐ nếu không có động lực vẫn có thể hoàn thành công việc.
Nếu CBNV mất động lực hoặc suy giảm động lực, họ sẽ không mất khả năng thực hiện công việc và có xu hƣớng ra khỏi tổ chức. Động lực cá nhân là kết quả của rất nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con ngƣời, trong môi trƣờng sống và môi trƣờng làm việc của con ngƣời. Các nhân tố ảnh hƣởng đến động lực làm việc của mỗi ngƣời là sự kết hợp tác động của nhiều yếu tố nhƣ: Văn hóa của tổ chức, phong cách lãnh đạo, cơ cấu của tổ chức, các 6 chính sách về nhân lực và cách thực hiện các chính sách đó, các yếu tố về thuộc về cá nhân NLĐ nhƣ: Nhu cầu, mục đích, các quan niệm về giá trị. Tạo động động lực lao động Tạo động lực cho nhân viên chính là vạch rõ các yếu tố tạo động lực về phía nội tại của CBNV cũng nhƣ về phía tổ chức, xã hội và các phƣơng hƣớng tạo động lực cần quan tâm (Nguyễn Văn Điền & Nguyễn Ngọc Quân, 2007).
Tạo động lực trong lao động đƣợc hiểu là hệ thống các chính sách, các biện pháp nhà quản trị áp dụng nhằm tạo động lực cho CBNV bao gồm thiết lập mục tiêu vừa phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của CBNV vừa đảm bảo mục đích của doanh nghiệp; Sử dụng các biện pháp pháp kích thích về vật chất lẫn tinh thần; Tạo điều kiện cho CBNV hoàn thành công việc của họ tốt nhất; Một tổ chức chỉ có thể tồn tại và phát triển bền vững khi có những nhân viên làm việc tích cực và hiệu quả. Muốn có đội ngũ nhân viên gắn bó và trung thành với tổ chức, với doanh nghiệp, các nhà quản trị cần phải hiểu rõ tâm tƣ, nguyên vọng của nhân viên mình, mục đích làm việc của CBNV là gì, Những động lực giúp họ làm việc để từ đó có những chính sách phù hợp giúp họ làm việc nhiều hơn, cống hiến nhiều hơn cho sự nghiệp phát triển của công ty.2 Các yếu tố tác động tới động lực lao động Động lực của NLĐ gắn liền với công việc và tổ chức họ làm việc. Động lực cá nhân không tự nhiên xuất hiện mà do sự vận động đồng thời của các nguồn lực thuộc chính bản thân và trong môi trƣờng sống và làm việc của họ tạo ra. Bởi vậy, hành vi có động lực trong tổ chức là kết quả tổng hợp của sự kết hợp nhiều yếu tố tác động bao gồm các yếu tố thuộc chính bản thân NLĐvà các yếu tố thuộc môi trƣờng nơi họ tiến hành công việc.
Các yếu tố thuộc bản thân NLĐ Mục tiêu cá nhân: Mục tiêu chính là cái đích muốn đạt tới, nó định hƣớng cho mỗi ngƣời cần làm gì và nhƣ thế nào để đạt đƣợc các mong đợi đặt ra. Tuy nhiên, không phải lúc nào mục tiêu của NLĐ cũng cùng hƣớng với mục tiêu của tổ chức, nhiều khi những cái NLĐ cho rằng có giá trị đối với họ thì có thể làm hại đến lợi 7 ích của tổ chức. Hai bên lại luôn mong muốn đạt đƣợc mục tiêu của chính mình. Nếu không có sự dung hòa thì có thể cả hai bên đều không đạt đƣợc mong đợi.
Hệ thống nhu cầu cá nhân: Mỗi ngƣời khi tham gia vào một tổ chức đều có những mong muốn thỏa mãn những nhu cầu riêng của mình để có thể tồn tại và phát triển. Về cơ bản hệ thống nhu cầu của con ngƣời có thể chia làm hai loại đó là nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Nhu cầu vật chất là đòi hỏi về điều kiện vật chất cần thiết để con ngƣời có thể tồn tại và phát triển về thể lực. Nhu cầu tinh thần là những đòi hỏi về điều kiện để cá nhân tồn tại và phát triển về mặt trí lực.
Hai loại nhu cầu này gắn bó mật thiết và có quan hệ biện chứng. Thỏa mãn nhu cầu vật chất cũng làm cho con ngƣời thoải mái tinh thần và thúc đẩy họ hăng say làm việc. Mức độ thỏa mãn nhu cầu thể hiện ra lợi ích của họ đƣợc đảm bảo. Lợi ích mà cá nhân nhìn nhận đầu tiên đó là lợi ích kinh tế giữa các cá nhân trong tập thể và giữa NLĐ với ngƣời sử dụng lao động.
Nếu lợi ích kinh tế không đƣợc đảm bảo thì sẽ triệt tiêu động lực làm việc của họ và khi lợi ích kinh tế lực đảm bảo thì lợi ích tinh thần cũng đƣợc đáp ứng. Khả năng và kinh nghiệm làm việc: Theo maier & lawler (1973), khả năng mỗi ngƣời đƣợc tạo thành từ ba yếu tố là bẩm sinh, đào tạo và nguồn lực để vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế. Khả năng bẩm sinh có tính di truyền, liên quan trực tiếp đến khía cạnh thể lực và trí lực của mỗi ngƣời. Một ngƣời càng đƣợc thừa hƣởng các gen tốt từ gia đình thì càng có tố chất tốt để học tập, lĩnh hội những vấn đề xung quanh, nhƣng mới chỉ là dạng tiềm ẩn.
Khả năng cá nhân có đƣợc chủ yếu là thông qua quá trình giáo dục - đào tạo. Một ngƣời càng trẻ càng tham gia học tập nhiều, có nhiều bằng cấp thì càng tiếp thu, lĩnh hội đƣợc nhiều kiến thức để nâng cao khả năng làm việc, tuy nhiên, khi có đủ kiến thức nhƣng không có đủ điều kiện, tức là không đƣợc bố trí công việc phù hợp với khả năng và không đƣợc cung cấp các điều kiện vật chất để thực hiện thì khả năng đó cũng không thể phát huy hoặc chỉ đƣợc khai thác rất ít trên thực tế. Khi quá trình làm việc càng lâu thì kinh nghiệm của NLĐ cũng tăng. Kinh nghiệm lao động biểu hiện số lần lao động lặp lại ở những công việc đƣợc giao theo thời gian, độ lớn của kinh nghiệm tỉ lệ thuận với mức độ lặp lại các hoạt động trong công việc mà họ đã trải qua.
Những ngƣời 8 càng có nhiều kinh nghiệm thì sự chín chắn trong công việc càng lớn và năng suất lao động cũng cao hơn. Đặc điểm nhân cách: Nhân cách là tổng thể các thuộc tính tâm lý cá nhân, vừa có ý nghĩa xã hội, vừa đặc trƣng cho tính cá nhân trong giao tiếp. Nhân cách cho thấy rõ biểu hiện về hình thức, suy nghĩ, cảm nhận và hành động của mỗi ngƣời. Hiểu rõ nhân cách cá nhân giúp ngƣời quản lý có thể đoán biết đƣợc nhân viên có thể làm đƣợc gì và mong muốn làm đƣợc gì trong tổ chức.
Nhân cách thể hiện qua 4 khía cạnh: Xu hƣớng là mục đích sống của mỗi ngƣời; Tính cách biểu hiện qua cách cƣ xử với ngƣời xung quanh; Tính khí là thuộc tính tâm lý cá nhân gắn liền với kiểu hoạt động thần kinh tƣơng đối bền vững của con ngƣời đƣợc thể hiện thông qua các hành vi hàng ngày; Năng lực là tổng thể các thuộc tính độc đoán độc đáo của cá nhân phù hợp với nhu cầu đặc trƣng của một hoạt động nhất định, giúp họ có thể hoàn thành tốt công việc đƣợc giao. Tình trạng kinh tế của NLĐ: Tình trạng kinh tế khác nhau cũng tác động rất lớn đến nhu cầu của NLĐ trong công việc. Nhìn chung, cuộc sống càng khó khăn về kinh tế thì NLĐ càng tập trung vào đòi hỏi vật chất nhằm duy trì cuộc sống. Từ những năm 1990 trở lại đây, khi mức sống của ngƣời dân tăng lên cùng với xu hƣớng phát triển kinh tế trên thế giới, thì “lƣơng cao” không không còn là yếu tố tạo động lực chính ở những nƣớc giàu, “ công việc thú vị” ngày càng đóng vai trò quan trọng.
Ở những nƣớc nghèo, lƣơng cao vẫn đƣợc coi trọng. Ở Việt Nam hiện nay GDP bình quân đầu ngƣời vẫn còn ở mức thấp, thì việc đi làm để có lƣơng cao nhằm đáp ứng nhu cầu sinh lý còn đƣợc coi trọng, do đó NLĐ thích làm việc trong các tổ chức có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài với hi vọng nhận đƣợc lƣơng cao. Các yếu tố thuộc về tổ chức sử dụng lao động. Nhóm yếu tố này thể hiện sự ủng hộ và tạo điều kiện của tổ chức để NLĐ có thể đem hết khả năng của bản thân cống hiến cho mục tiêu chung và cũng chính là rút họ đạt đƣợc mục tiêu của chính mình.
Để nhìn thấy rõ sự tác động của chúng, có thể xem xét một số yếu tố căn bản dƣới đây. 9 Công việc cá nhân đảm nhận: Công việc chính là tập hợp các nhiệm vụ đƣợc thực hiện bởi một NLĐ, hay những nhiệm vụ tƣơng tự nhau đƣợc thực hiện bởi một một số NLĐ để hoàn thành mục tiêu của tổ chức.