Luận án tiến sĩ về dạy học hình học trung học cơ sở theo thuyết đa trí tuệ

Luận án tiến sĩ giáo dục phân tích giáo dục dạy học hình học trung học cơ sở theo hướng vận dụng thuyết đa trí tuệ, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri

Trường đại học

Trường Trung Học Cơ Sở

Chuyên ngành

Giáo Dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2016

216
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Giáo dục Hình học Trung học Cơ sở và Thuyết Đa Trí tuệ

Phần này khảo sát thực trạng dạy học hình học trung học cơ sở hiện nay. Nhiều giáo viên vẫn tập trung vào phương pháp giảng dạy truyền thống, thiếu sự linh hoạt và chưa khai thác hết tiềm năng của thuyết đa trí tuệ trong việc nâng cao hiệu quả giảng dạy. Thuyết đa trí tuệ của Gardner đề cao sự đa dạng về trí tuệ ở mỗi học sinh, bao gồm trí tuệ ngôn ngữ, trí tuệ logic/toán, trí tuệ không gian, trí tuệ hình thể - động năng, trí tuệ âm nhạc, trí tuệ giao tiếp, trí tuệ nội tâmtrí tuệ tự nhiên học. Việc áp dụng thuyết này vào dạy học hình học sẽ giúp phát huy thế mạnh của từng học sinh, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục. Một số nghiên cứu quốc tế đã chứng minh hiệu quả của việc tích hợp thuyết đa trí tuệ vào quá trình giảng dạy. Tuy nhiên, việc ứng dụng thuyết này vào dạy học hình học trung học cơ sở ở Việt Nam vẫn còn hạn chế. Chính vì vậy, nghiên cứu này tập trung vào việc đề xuất các phương pháp dạy học hình học phù hợp với thuyết đa trí tuệ, nhằm khắc phục những hạn chế hiện nay.

1.1 Khái niệm và các dạng trí tuệ

Định nghĩa trí khôn, trí tuệ, và trí thông minh cần được làm rõ. Theo thuyết đa trí tuệ, mỗi cá nhân sở hữu tám dạng trí tuệ độc lập nhưng liên kết với nhau. Trí tuệ ngôn ngữ liên quan đến khả năng sử dụng ngôn ngữ. Trí tuệ logic/toán tập trung vào khả năng tư duy logic và toán học. Trí tuệ không gian là khả năng hình dung và thao tác trong không gian ba chiều. Trí tuệ hình thể - động năng liên quan đến khả năng điều khiển cơ thể và vận động. Trí tuệ âm nhạc là khả năng cảm nhận và sáng tạo âm nhạc. Trí tuệ giao tiếp là khả năng hiểu và tương tác với người khác. Trí tuệ nội tâm là khả năng tự nhận thức bản thân. Cuối cùng, trí tuệ tự nhiên học là khả năng quan sát và hiểu biết về thế giới tự nhiên. Việc hiểu rõ các dạng trí tuệ này là nền tảng để xây dựng phương pháp dạy học hình học hiệu quả.

1.2 Thuyết Đa Trí Tuệ trong Giáo dục

Thuyết đa trí tuệ mang tính giáo dục nhân văn, nhấn mạnh sự đa dạng về khả năng của mỗi học sinh. Mục tiêu giáo dục cần hướng đến phát triển toàn diện các dạng trí tuệ, không chỉ tập trung vào trí tuệ ngôn ngữtrí tuệ logic/toán. Việc áp dụng thuyết đa trí tuệ trong giáo dục hình học trung học cơ sở đòi hỏi giáo viên phải linh hoạt trong việc lựa chọn phương pháp giảng dạy, tạo điều kiện để học sinh được học tập theo thế mạnh của mình. Điều này đòi hỏi sự đổi mới trong phương pháp giảng dạy, sách giáo khoa và các hoạt động học tập. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc vận dụng thuyết đa trí tuệ giúp học sinh tiếp thu kiến thức hiệu quả hơn, tăng cường sự tự tin và khả năng sáng tạo. Giáo dục hình học cần được thiết kế để kích thích sự tham gia tích cực của học sinh, khuyến khích sự hợp tác và giải quyết vấn đề.

II. Phương pháp dạy học hình học trung học cơ sở theo thuyết đa trí tuệ

Phần này trình bày các phương pháp dạy học hình học cụ thể dựa trên thuyết đa trí tuệ. Giáo án hình học lớp 6, 7, 8 cần được thiết kế đa dạng, kết hợp nhiều hình thức hoạt động. Việc sử dụng bài tập hình học trung học cơ sở đa dạng giúp học sinh phát triển nhiều dạng trí tuệ. Dạy học tích hợp các dạng trí tuệ khác nhau cần được chú trọng. Ví dụ, sử dụng hình ảnh, mô hình (trí tuệ không gian) để minh họa các khái niệm hình học. Tổ chức các hoạt động nhóm, thảo luận (trí tuệ giao tiếp) để học sinh cùng nhau giải quyết bài toán. Khuyến khích học sinh tự khám phá, khám phá hình học, tự xây dựng kiến thức (trí tuệ nội tâm). Sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học hình học trực tuyến cũng là một cách tiếp cận hiệu quả.

2.1 Ứng dụng các dạng trí tuệ trong dạy học

Cần thiết kế các hoạt động dạy học hình học nhằm kích thích các dạng trí tuệ khác nhau. Ví dụ, đối với trí tuệ không gian, giáo viên có thể sử dụng các mô hình 3D, phần mềm đồ họa để minh họa các khái niệm hình học. Đối với trí tuệ logic/toán, giáo viên có thể đưa ra các bài toán đòi hỏi tư duy logic, chứng minh định lý. Đối với trí tuệ hình thể - động năng, có thể tổ chức các hoạt động thực hành, xây dựng mô hình hình học. Đối với trí tuệ ngôn ngữ, giáo viên nên khuyến khích học sinh diễn đạt bằng lời, viết báo cáo về các vấn đề hình học. Việc kết hợp linh hoạt các dạng trí tuệ này sẽ giúp học sinh tiếp cận kiến thức hình học một cách toàn diện và hiệu quả hơn. Giải bài tập hình học cũng cần được thiết kế đa dạng, phù hợp với từng dạng trí tuệ.

2.2 Đánh giá năng lực học sinh

Đánh giá năng lực học sinh cần đa dạng, không chỉ dựa trên kiểm tra viết mà cần kết hợp nhiều hình thức khác. Có thể sử dụng các bài kiểm tra thực hành, bài làm dự án, thuyết trình. Ôn tập hình học cũng cần được thiết kế linh hoạt, phù hợp với từng dạng trí tuệ. Thi học kỳ hình họcôn thi tốt nghiệp hình học cần bao gồm các câu hỏi đa dạng, đánh giá được nhiều khía cạnh năng lực học sinh. Việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học hình học giúp giáo viên dễ dàng theo dõi tiến độ học tập của học sinh và điều chỉnh phương pháp dạy học cho phù hợp. Nguồn học liệu hình học đa dạng cũng hỗ trợ việc đánh giá hiệu quả hơn.

III. Kết luận và đề xuất

Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ứng dụng thuyết đa trí tuệ trong dạy học hình học trung học cơ sở. Việc thiết kế giáo án hình học đa dạng, kết hợp nhiều phương pháp giảng dạy giúp học sinh phát triển toàn diện. Các phương pháp dạy học hình học hiệu quả cần được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi. Dạy học hình học hiệu quả phụ thuộc vào sự linh hoạt của giáo viên trong việc lựa chọn phương pháp và điều chỉnh phương pháp dạy học cho phù hợp với từng học sinh. Sách bài tập hình học cần được biên soạn đa dạng, phù hợp với từng dạng trí tuệ. Cần có những nghiên cứu sâu hơn về việc ứng dụng thuyết đa trí tuệ trong dạy học hình học ở các cấp học khác nhau.

3.1 Những đóng góp của nghiên cứu

Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn tổng quan về thuyết đa trí tuệ và vai trò của nó trong dạy học hình học. Đề xuất các phương pháp dạy học hình học cụ thể, phù hợp với từng dạng trí tuệ. Đưa ra các gợi ý về việc đánh giá năng lực học sinh một cách toàn diện. Nghiên cứu này có thể làm tài liệu tham khảo cho giáo viên, sinh viên ngành sư phạm toán học. Việc áp dụng thuyết đa trí tuệ vào thực tiễn dạy học hình học cần được tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện.

3.2 Hạn chế và đề xuất nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu này chỉ tập trung vào dạy học hình học trung học cơ sở. Việc ứng dụng thuyết đa trí tuệ trong các cấp học khác cần được nghiên cứu tiếp. Nghiên cứu này chỉ đề xuất một số phương pháp, việc áp dụng thực tế và hiệu quả của các phương pháp này cần được nghiên cứu thêm. Cần có những nghiên cứu so sánh hiệu quả giữa các phương pháp dạy học khác nhau. Nghiên cứu sâu hơn về việc xây dựng mộ hình dạy học đa trí tuệ trong dạy học hình học là cần thiết. Tài liệu tham khảo dạy học hình học cần được cập nhật và bổ sung.

25/01/2025
Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục dạy học hình học trung học cơ sở theo hướng vận dụng thuyết đa trí tuệ

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài 1. Một số vấn đề chung về thuyết Đa trí tuệ 1. Về thuật ngữ có liên quan đến trí tuệ Ít có lĩnh vực nào trong khoa học lại có nhiều tên gọi như lĩnh vực trí tuệ: trí khôn, trí tuệ, trí thông minh.

Dĩ nhiên mỗi thuật ngữ có sắc thái riêng và được dùng trong các văn cảnh nhất định. Tuy vậy, để thuận lợi cho việc trao đổi nội dung khoa học, cần có sự thống nhất chung về thuật ngữ, mặc dù, sự thống nhất này chỉ có tính tương đối. - Trí khôn, theo thuật ngữ dân gian được đồng hóa với trí thông minh. Theo dân gian, trí khôn là một thứ gì đó được Trời, Đất ban cho.

Theo Charles Spearman (1927) và Robert Sternberg (1985), trí khôn là một sự thích nghi của tinh thần vào các hoàn cảnh mới. Trí khôn chỉ xuất hiện với những hành vi bừng sáng của trí tuệ [30,tr. - Trí tuệ, được dùng để mô tả cấu trúc hoạt động trí óc, nhằm đảm bảo sự thích ứng giữa những chủ thể với những thay đổi của những điều kiện sống. Trí tuệ gồm những NL như trí nhớ, nhận thức, chú ý và tưởng tượng cũng như các kỹ năng nhận thức như giải quyết vấn đề, lập kế hoạch và đọc [30, tr.

- Trí thông minh, được hiểu là trí tuệ, song ở mức độ phát triển cao. Cốt lõi của trí thông minh là tư duy tích cực, độc lập, linh hoạt, sáng tạo trước những vấn đề thực tiễn, lý luận và liên quan chặt chẽ với trình độ văn hóa của mỗi người. Tóm lại trí thông minh là: 1) có trí lực tốt, hiểu nhanh, tiếp thu nhanh; 2) nhanh trí và khôn khéo, tài tình trong cách ứng đáp đối phó [30, tr. Theo Nguyễn Khắc Viện (1991), có sự khác nhau giữa trí khôn và trí tuệ.

Trí khôn là khả năng hành động thích nghi với những biến động của hoàn cảnh, thiên về hành động. Trí tuệ cũng là khả năng thích nghi nhưng thiên về tư duy trừu tượng. Một số nhà nghiên cứu khác ở Việt Nam như: Phạm Hoàng Gia (1979), Nguyễn Kế Hào (1985),. coi trí thông minh là một phẩm chất cao của trí tuệ, tác giả có đề cập đến các vấn đề: khả năng lĩnh hội nhanh chóng và hiệu quả, khả năng tư duy trừu tượng, khả năng thích ứng với môi trường mới [55].

Như vậy, các thuật ngữ trí khôn, trí tuệ và trí thông minh đều có điểm trùng nhau nhưng không đồng nhất, chúng đều có liên quan đến HĐ trí óc nhưng được định nghĩa khác nhau. Tóm tắt tám dạng trí tuệ Nhà tâm lý học người Mỹ Howard Gardner trên cơ sở tận dụng các tiến bộ trong y học, dựa trên các phân tích về khả năng hệ thần kinh của con người, đã công bố tác phẩm “Frames of Mind - The Theory of Multiple Intellgences” vào năm 1983, với thuật ngữ tiếng Anh "Theory of Multiple Intellgences", hiện nay có nhiều cách dịch khác nhau như: Lý thuyết về nhiều dạng trí khôn [36]; Thuyết “Đa trí tuệ”[3]; Thuyết “Đa trí thông minh”[2]; Thuyết “Trí thông minh đa dạng”[4];… và chưa có một sự thống nhất chung. Do đó, để thuận lợi cho việc nghiên cứu, trong luận án chúng tôi thống nhất sử dụng thuật ngữ Thuyết “Đa trí tuệ”. Theo tài liệu [36], ban đầu Howard Gardner xác định có bảy dạng trí tuệ riêng biệt: Trí tuệ ngôn ngữ, Trí tuệ logic/toán, Trí tuệ không gian, Trí tuệ hình thể - động năng, Trí tuệ âm nhạc, Trí tuệ giao tiếp, Trí tuệ nội tâm.

Năm 1999, ông công bố thêm hai dạng trí tuệ nữa là: trí tuệ tự nhiên học, trí tuệ sinh tồn. Tuy nhiên ông vẫn chưa đủ chứng cứ để kết luận trí tuệ sinh tồn là một dạng trí tuệ riêng biệt. Căn cứ vào các tài liệu [2], [3], [4], [36],. có thể tóm lược tám dạng trí tuệ trong thuyết Đa trí tuệ như sau: i) Trí tuệ ngôn ngữ (Linguistic Intelligence): Biểu hiện nổi trội của dạng trí tuệ này là hiểu được trật tự, ý nghĩa của từ, học ngữ pháp rất nhanh và áp dụng các kỹ năng ngôn ngữ thành thạo.

Trẻ em có dạng trí tuệ này thường có khả năng đọc hiểu ngôn ngữ, hiểu từ và dùng từ biểu thị câu, viết văn, làm thơ, kể chuyện,. Những HS nổi trội về dạng trí tuệ này thường có thiên hướng học tập thông qua việc nói và viết, thích đọc, chơi ô chữ,… ii) Trí tuệ lôgic/toán (Logical - Mathematical Intelligence): Biểu hiện điểm mạnh ở dạng trí tuệ này là tính toán, xác định số lượng, cân nhắc các giả thuyết và thực hiện những HĐ toán học. Trẻ sở hữu loại trí tuệ lôgic/toán thường sớm bộc lộ năng khiếu về lôgic toán học liên quan đến khả năng tư duy giải quyết những vấn đề toán học. Nó cũng cho phép trẻ hiểu những khái niệm trừu tượng, tư duy logic, suy luận quy nạp và suy diễn.

Trẻ nổi trội ở dạng trí tuệ này thường có thiên hướng học tập thông qua các lập luận logic, tính toán, lập trình, chơi xếp hình. iii) Trí tuệ không gian (Spatial - Visual Intelligence): Điểm nổi trội của dạng trí tuệ này bao gồm trí tưởng tượng, suy luận trong không gian, vận dụng hình ảnh, các kỹ năng đồ họa và nghệ thuật, không gian "ba chiều". Những trẻ sở hữu trí tuệ 7 không gian sẽ nhạy cảm với màu sắc, hình khối, ghép hình, tìm kiếm mê cung hoặc vẽ tranh, nặn tượng. Học tốt thông qua thị giác/không gian, suy nghĩ dựa trên hình ảnh; Những trẻ nổi trội dạng trí tuệ không gian thường có thiên hướng học tập thông qua hình ảnh, đồ vật, sử dụng tốt bản đồ và định hướng tốt trong không gian; iv) Trí tuệ hình thể - động năng (Bodily - Kinesthetic Intelligence): Trẻ sở hữu dạng trí tuệ này biết cách phối hợp cơ thể, nhạy bén trong việc điều khiển cơ thể để có hành động và phản ứng trước những tình huống tự nhiên.

Đặc biệt, có thể làm được các cử chỉ phức tạp bằng ngôn ngữ của cơ thể, khi tiếp xúc với người khác. Học tốt thông qua các hoạt động di chuyển cơ thể, khéo léo tay, chân;. Những trẻ sở hữu trí tuệ ở dạng này thường có thiên hướng học tập thông qua những hoạt động vận động, sử dụng động tác, cảm thấy thích thú khi vận động cơ thể, chơi thể thao. v) Trí tuệ âm nhạc (Musical Intelligence): Điểm nổi bật của dạng trí tuệ này là nhạy cảm với độ cao thấp, nhịp điệu, âm sắc, âm thanh.

Trẻ sở hữu trí tuệ âm nhạc có thể cảm nhận giai điệu, nhịp độ cao thấp, hiểu âm luật, hát được theo nhạc. Trẻ có trí tuệ này có thiên hướng học tập thông qua các giai điệu, âm nhạc, thích chơi nhạc cụ, hát, đọc truyền cảm các tác phẩm; vi) Trí tuệ giao tiếp (Interpersonal Intelligence): Đặc điểm của dạng trí tuệ này thường biểu hiện sự nhạy cảm với tâm lí người khác, hiểu tâm trạng, tính khí, động cơ, mục đích, thích tương tác với người khác; có đầu óc tổ chức, khả năng lôi cuốn, thuyết phục cao, thấu hiểu trong nhìn nhận, đánh giá các đối tượng (con người, sự việc) qua tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp. Những trẻ sở hữu trí tuệ này có thiên hướng học tập thông qua sử dụng các kỹ năng xã hội, giao tiếp, hợp tác làm việc với người khác, thích gặp gỡ và trò chuyện, có khả năng thông hiểu người khác; vii) Trí tuệ nội tâm (Intrapersonal Intelligence). Là khả năng thâm nhập vào thế giới "tình cảm" của bản thân một cách sâu sắc; khả năng phân biệt giữa các cảm xúc, nhận thức, kiến thức của bản thân, nhận biết được những điểm mạnh cũng như điểm yếu của chính mình.

Trẻ nổi trội ở dạng trí tuệ này thường có lòng tự trọng, kiêu hãnh, cá tính mạnh mẽ, tâm tính tốt nhưng trầm tĩnh. Những trẻ sở hữu dạng trí tuệ này có thiên hướng học tập thông qua nhận biết các trạng thái cảm xúc của mình và suy nghĩ về những thói quen, sở thích; viii) Trí tuệ tự nhiên học (Naturalist Intelligence): Biểu hiện nổi bật ở dạng trí tuệ này là có thiên hướng khám phá, tìm hiểu về đời sống của các loài trong thiên 8 nhiên, tỏ ra nhạy cảm với những thay đổi của các hiện tượng tự nhiên diễn ra xung quanh mình. Trẻ sở hữu dạng trí tuệ tự nhiên học rất nhạy cảm với các vật thể trong thế giới tự nhiên, có khả năng học tập thông qua hệ thống sắp xếp, phân loại, yêu thích thiên nhiên, các hoạt động ngoài trời; 1. Một số đặc điểm cơ bản của thuyết Đa trí tuệ Đối với thuyết Đa trí tuệ của Howard Gardner, ngoài việc mô tả các dạng trí tuệ như trên, chúng ta cần nắm được một số đặc điểm về tính khác biệt, tính thực tiễn, tính khơi gợi, tính toàn diện của thuyết này.

- Tính khác biệt: Howard Gardner cho rằng mỗi người đều sở hữu tám dạng trí tuệ và các dạng trí tuệ này là những tổ hợp không giống nhau, ở những mức độ khác nhau trong mỗi con người. Vài người dường như có những mức độ biểu hiện cực kỳ cao đối với tất cả hoặc hầu hết tám dạng trí tuệ. Nhiều người khác, biểu hiện thiếu tất cả, trừ vài dạng trí tuệ thô sơ nhất và đa số chúng ta nằm trong ranh giới giữa hai thái cực đó và thuộc hạng người phát triển ở mức độ cao về các trí tuệ này, phát triển ở mức độ "sàng lọc bậc trung" về các dạng trí tuệ khác và cả phát triển ở mức độ thấp (kém phát triển) về các dạng trí tuệ còn lại. Mỗi dạng trí tuệ đều có thể được phát huy, nếu được khuyến khích [3, tr.

- Tính thực tiễn: Howard Gardner cho rằng trí tuệ là NL giải quyết vấn đề trong thực tiễn của cá nhân nào đó, cũng là NL sản xuất hay sáng tạo ra các sản phẩm có hiệu quả phù hợp với nhu cầu xã hội. Ông nhấn mạnh trí tuệ không phải là một dạng vật chất trí não do ông trời tặng không cho số ít người may mắn nào đó, mà trí tuệ phải do mỗi người ở phương diện nào đó, trong khả năng nào đó tự giải quyết những vấn đề thực tế trong cuộc sống. - Tính khơi gợi: Dù cá nhân sở hữu các dạng trí tuệ ở mức độ nào, cá nhân đó cũng có thể khám phá, rèn luyện và phát triển nó. Mỗi dạng trí tuệ đều có nhiều cách biểu hiện khác nhau.

Chẳng hạn, học Toán chính là làm Toán (G. Polya: Cách duy nhất để học toán là làm Toán).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận Án Tiến Sĩ Về Dạy Học Hình Học Trung Học Cơ Sở Theo Hướng Đa Trí Tuệ" tập trung vào việc áp dụng thuyết đa trí tuệ trong giảng dạy hình học cho học sinh trung học cơ sở. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp những phương pháp dạy học hiệu quả mà còn giúp giáo viên hiểu rõ hơn về cách phát triển năng lực tư duy của học sinh thông qua các hoạt động học tập đa dạng. Bài viết mang lại lợi ích cho cả giáo viên và học sinh, giúp nâng cao chất lượng giáo dục và khuyến khích sự sáng tạo trong học tập.

Nếu bạn quan tâm đến việc phát triển tư duy và kỹ năng lập luận toán học cho học sinh, hãy tham khảo bài viết "Phát triển tư duy và kỹ năng lập luận toán học cho học sinh trung học cơ sở". Bài viết này cũng đề cập đến các phương pháp dạy học hiệu quả trong lĩnh vực giáo dục.

Ngoài ra, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Quản Lý Hoạt Động Bồi Dưỡng Năng Lực Dạy Học Cho Giáo Viên Tại Trường Trung Học Phổ Thông Tam Đảo", nơi nghiên cứu về việc nâng cao năng lực giảng dạy cho giáo viên, một yếu tố quan trọng trong việc cải thiện chất lượng giáo dục.

Cuối cùng, bài viết "Luận văn về quản lý nhà nước trong giáo dục và đào tạo tại Việt Nam giai đoạn hiện nay" sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về chính sách giáo dục và quản lý trong lĩnh vực này, giúp bạn có thêm thông tin về bối cảnh giáo dục hiện tại.

Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn sâu sắc hơn về các phương pháp dạy học và quản lý giáo dục.