PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: “Dân trí tài chính số” (Digital Financial Literacy) được nhắc đến ở các nghiên cứu trước đây với cách hiểu rộng hơn là “Sự hiểu biết về tài chính kỹ thuật số". Nhìn chung, năng lực về tài chính số có thể hiểu là tập hợp các hiểu biết căn bản về tài chính và kỹ thuật số; là sự nhận thức về dịch vụ tài chính số và sự nhận thức về thái độ, hành vi tài chính tích cực, cũng như khả năng quyết định các vấn đề về tài chính một cách phù hợp, phản ánh thái độ và hành vi, sử dụng dịch vụ tài chính số. Đồng thời là khả năng phát hiện và tránh các trò gian lận và lừa đảo trực tuyến về dịch vụ tài chính số (Angela C.
Lyons, Josephine Kass-Hanna, 2021). Thông qua tổng quan nghiên cứu, nhận thấy rằng những bài viết thảo luận về tầm quan trọng của tài chính số. Hanuman Prasad và nhóm tác giả (2018) đã khẳng định việc có kiến thức về tài chính số là rất quan trọng. Bên cạnh đó cũng có một số kết luận đồng thuận đến từ tác giả Maman Setiawan và cộng sự (2020), cũng cùng chung quan điểm OECD (2018) đã đề xuất tăng cường tài chính số do công nghệ tài chính có lợi thế và rủi ro và đặc điểm riêng biệt.
Đặc biệt khi thế giới vật lộn với cuộc khủng hoảng COVID- 19, tầm quan trọng của các dịch vụ tài chính số trong việc cung cấp các công cụ tài chính có tính bảo mật cao, chi phí thấp và không cần tiếp xúc cho người dân và Chính phủ càng trở nên rõ ràng hơn. Nhưng tiềm năng của tài chính số còn lớn hơn nhiều so với những gì đã đạt được, bởi khủng hoảng dịch bệnh đã nêu bật lợi ích của các dịch vụ tài chính số ở nhiều khía cạnh khác nhau và vai trò quan trọng của nó trong việc đạt được các mục tiêu phát triển bền vững. Đồng thời khi nhận thức về công nghệ số tăng lên, ngày càng có nhiều người đón nhận các xu hướng tài chính số mới và sẵn sàng tham gia vào thị trường và tích lũy kiến thức để thúc đẩy sự độc lập về tài chính. Tóm lại, tài chính số là chìa khóa cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế sau đại dịch.
Do đó, nghiên cứu điều tra về tài chính số và tác động của nó là rất cần thiết trong thời điểm hiện tại và tương lai. Với thanh niên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “Một năm khởi đầu từ mùa Xuân, một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa Xuân của xã hội” (Di chúc của Bác). Có thể thấy thanh niên đóng góp một vai trò vô cũng quan trọng cho sự phát triển của đất nước, đưa đất nước ngày càng phát triển.
2 (2021) khẳng định tầm quan trọng vượt trội của việc chuyển đổi kiến thức số thành điều kiện tiên quyết để hòa nhập xã hội và là một chỉ số về năng lực chuyên môn và kỹ năng xã hội. Như vậy khi đặt vai trò của thanh niên vào việc chuyển đổi kiến thức số, cụ thể là nâng cao “dân trí tài chính số” thì vô cùng cần thiết. Chính phủ cũng đã dành nhiều sự quan tâm hướng tới việc cải thiện năng lực tài chính số của thanh niên thông qua Luật thanh niên (57/2020/QH14); Chiến lược quốc gia về tài chính toàn diện. Bên cạnh đó Chính phủ cũng nỗ lực đẩy mạnh nền kinh tế số thông qua Chiến lược chuyển đổi số ngành Ngân hàng.
“Bộ Tài chính là một trong những bộ, ngành đã tiên phong chủ động triển khai lộ trình chuyển đổi số” (TS. Nguyễn Việt Hùng, Diễn đàn Tài chính số 2021) nên đòi hỏi phải có một nguồn nhân lực với năng lực tài chính số cao và “để nâng cao năng lực số cho người lao động, trước hết, cần tăng cường giáo dục và đào tạo công nghệ thông tin (CNTT) ở các cấp”. Nghiên cứu về thanh niên trên địa bàn Hà Nội mang tính đại diện cao và ý nghĩa bởi vì Hà Nội là nơi quy tụ lực lượng thanh niên của cả nước, đặc biệt là ở các trường Đại học, Cao đẳng và đồng thời cũng là trung tâm kinh tế, chính trị của đất nước. Do đó nhóm tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài “Dân trí tài chính số của thanh niên trên địa bàn Hà Nội” để nghiên cứu với mục đích sử dụng mô hình phù hợp tìm ra các yếu tố tác động lên dân trí tài chính số của thanh niên trên địa bàn Hà Nội từ đó đưa ra một số hàm ý, khuyến nghị cho việc cải thiện dân trí tài chính số của thanh niên.
Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm (tổng quan các nghiên cứu liên quan) 1.1 Khái niệm và các quan điểm về dân trí tài chính số Các quan điểm về dân trí tài chính: Tổng quan nghiên cứu cho thấy về dân trí tài chính có những phát hiện như sau: Dân trí tài chính đã được nhắc đến trong nhiều nghiên cứu, với cách hiểu rộng hơn là "năng lực quản lý tài chính cá nhân" của mỗi người trong xã hội. Từ các tổng quan nghiên cứu của Schengen (1996), Hogarthe (2002), Remund (2010), Mahdzan và S. Tabiani (2013), Lusardi và Mitchell (2014), OECD/INFE (2016), các khái niệm về "dân trí về tài chính" có thể khái quát như sau: - "Dân trí về tài chính" được hiểu là khả năng quản lý của cá nhân đối với việc tiết kiệm, chi tiêu, lên kế hoạch tài chính và được thể hiện bởi tình hình tài chính cá nhân (Roy Morgan Reserch, 1993); “phán quyết một cách có hiểu biết và ra các quyết định 3 hiệu quả liên quan đến việc sử dụng và quản lý đồng tiền hay tài chính cá nhận”(Schngen,1996); “khả năng trong xử lý thông tin kinh tế và dựa trên cơ sở thông tin kinh tế và dựa trên cơ sở thông tin để ra các quyết định về kế hoạch tài chính, tích lũy tài sản, vay nợ và quỹ hưu trí cá nhận” (Lusardi và Mitchell, 2014); “Đo lường mức độ hiểu biết các khái niệm cơ bản về tài chính và có khả năng cùng sự tự tin để quản lý tài chính cá nhân thông qua việc ra các quyết định hợp lý trong ngắn hạn một cách cơ sở, lập kế hoạch tài chính dài hạn, đồng thời sống có trách nhiệm hay quan tâm tới cuộc sống và các thay đổi về điều kiện kinh tế” (Remund, 2010, tr. “Về phân loại, trong bảng hỏi điều tra của OECD/INFE (2016) trên 30 quốc gia, am hiểu tài chính được chia thành ba khía cạnh: (i) kiến thức tài chính, (ii) hành vi tài chính, và (iii) thái độ đối với lập kế hoạch tài chính dài hạn.
- Kiến thức tài chính giúp các cá nhân so sánh các sản phẩm tài chính và đưa ra quyết định tài chính phù hợp và toàn diện về mặt thông tin. - Hành vi tài chính phản ánh sự lựa chọn của người tiêu dùng giữa thực hiện hay không thực hiện các quyết định tài chính. Hành vi tài chính có tác động đến tình hình tài chính và sự an toàn tài chính cá nhân. - Thái độ tài chính cho biết khẩu bị thời gian cũng như mức độ sẵn lòng lập kế hoạch tiết kiệm dài hạn.
Điều này có thể thấy thông qua sự đối ngược giữa hai quan điểm tiêu dùng sống cho hiện tại và tiết kiệm cho tương lai. Worokinasih (2021) đã chỉ ra “Hiểu biết về tài chính” được khái niệm hóa bằng cách sử dụng hai khía cạnh, giống như khả năng đọc viết nói chung. Các chiều hướng này là chiều kiến thức và chiều ứng dụng. Phạm Thị Hoàng Anh và cộng sự (2020) đã chỉ ra những yếu tố tác động đến trình độ tài chính của sinh viên Hà Nội: (1).
Chuyên ngành học của sinh viên; (2). Giới “ tính sinh viên; (3). Quê quán sinh viên; (4). Địa chỉ hiện tại của sinh viên; (5).
Số năm học đại học hiện tại của sinh viên. Trong đó, bài nghiên cứu đã chỉ ra rằng, sinh viên thuộc khối ngành kinh tế hoặc trong chương trình có môn học liên quan đến ngành tài chính - kinh tế thì sẽ có hiểu biết tài chính tốt hơn. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, sinh viên có giới tính nữ sẽ có hiểu biết về tài chính tốt hơn, số năm đã học trên ghế đại học càng nhiều thì trình độ tài chính của sinh viên sẽ càng tốt. Thực tế, theo DEAN DOUGN (2019), tại Việt Nam, 53% số người được hỏi cho biết họ quan tâm đến tài 4 chính, nhưng chỉ 1/10 thường xuyên cải thiện kiến thức về tài chính.
Quan trọng nhất, 90% thừa nhận rằng việc lập kế hoạch ngân sách cá nhân không chính xác vì không đủ kiến thức về tài chính là lý do chính cho điều đó. Trung bình tại Việt Nam, cứ 5 người được hỏi thì có 1 người đối mặt với những lỗ hổng thường xuyên trong ngân sách cá nhân. ” Các quan điểm về dân trí số: Các nghiên cứu về năng lực số cho thấy những phát hiện như sau: Paul Gilster (1997) đã mô tả định nghĩa thuật ngữ "kỹ năng đọc hiểu số" là khả năng hiểu và sử dụng thông tin ở nhiều định dạng từ nhiều nguồn khác nhau khi nó được trình bày qua máy tính. Đến năm 2001, Bawden chỉ ra năng lực số là khả năng tìm kiếm, đánh giá và sử dụng thông tin số một cách hiệu quả và có đạo đức.
Ala-Mutka (2011) đã đưa ra một mô hình tổng quát ba bậc để đánh giá năng lực công nghệ số tại thế kỉ XXI: hiểu và thực hành ứng dụng các công cụ về tin học; kiến thức và nâng lực giải quyết các vấn đề về giao tiếp, ứng xử; và thứ ba là hành vi ứng xử liên văn hóa, tư duy phản biện,sáng tạo, trách nhiệm và tự chủ. Trong năm 2018, đã có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực số như: Theo Jane Secker (2018) chỉ ra rằng: “Khái niệm năng lực số thường được sử dụng cùng lúc với các khái niệm như kỹ năng số, năng lực thông tin, năng lực truyền thông hay năng lực học thuật. Năng lực số yêu cầu người học cần có khả năng phân tích hợp lý, tư duy phản biện để đánh giá chung và nắm bắt được cách thức sử dụng các công cụ số trong việc chia sẻ thông tin phục vụ nghiên cứu và biểu đạt chính bản thân mình”. UNESCO lại cho rằng : “Năng lực số là khả năng truy cập, quản trị, thấu hiểu, kết hợp, giao tiếp, đánh giá và sáng tạo thông tin một cách an toàn và phù hợp thông qua công nghệ số để phục vụ cho thị trường lao động phổ thông, các công việc cao cấp và khởi nghiệp kinh doanh (2018)”.