CHƯƠNG I. CO SỞ LÝ LUẬN VÀ THỤC TIỄN 1. Lịch sủ’ nghiên cứu van đề 1. Lịch • sử nghiên o • và thực tiễn cứu • về• dạy học • ĩ tích hợp Trước hết, hiện nay trong chương trình cải cách giáo dục một số nước trên thế giới quan điểm tích hợp (TH) được ghi rõ trong chương trình như là một yêu cầu bắt buộc.
TH là một trong nhũng quan điểm xây dựng chương trình của nhiều nước Pháp, Hoa Kỳ, Anh. Ví dụ, đầu nhũng năm 90 của thế kỷ XX, Chương trình giảng dạy toàn diện (Comprehensive Curriculum) của Hoa Kỳ đã dành hẳn một mục bàn về TH nội dung giáo dục trong chương trình giáo dục nhằm đáp ứng mong muốn làm cho chương trình thích úng yêu cầu của người học, sẵn sàng tham gia xã hội, làm cho chương trình có ý nghĩa. Cách tiếp cận TH trong GD được nước Mỹ và các nước Châu Âu đề cao từ thập kỷ 60 của thế kỉ XX. Cho đến đầu nhũng năm 1970, Việt Nam và các nước Châu Á mới quan tâm vấn đề này.
Từ đó, ở các nước khu vực Đông Nam Á hầu hết đã triển khai quan điểm TH ở những mức độ khác nhau. Trong những năm 70 và 80 của thế kỷ XX, UNESCO đã có những hội thảo với các báo cáo về việc thực hiện quan điểm TH của các nước tới dự. Tuy nhiên xu hướng TH đến nay chưa hoàn toàn thắng thế, do giáo dục là có phạm vi rộng, đa dạng đối tượng, nhiều cách tiếp cận. Tích họp trong DH đã trở thành một trào lưu sư phạm hiện đại bên cạnh trào lưu sư phạm theo mục tiêu, giải quyết các vấn đề, hợp đồng.Theo thống kê của UNESCO, từ năm 1960 đến năm 1974 đã có 208/392 chương trình môn học thế hiện quan điểm TH ở các mức độ khác nhau, từ liên môn, kết học đến TH hoàn toàn theo những chủ đề.
Năm 1981, một tổ chức quốc tế đã thành lập để cung cấp các thông tin về các chương trình TH nhằm thông đây việc áp dụng quan điểm TH trong việc thiết kế chương trình các môn khoa học trên thế giới. Cuối nhũng năm 80 cho tới giữa nhũng năm 90 của thế kỷ XX đã xuất hiện các giáo trình và bài học TH ở tất cả các môn học trong nhà trình phổ 6 thông. Bản thân tư tưởng DHTH đã được đê cập tới trong tư tưởng giáo dục truyền thống thì nay được triển khai một cách có hệ thống: cấu trúc của nội dung các môn học, PPDH, tồ chức quá trình DH.Tư tưởng TH được hình thành trên cơ sở của chương trình các môn học về kỳ thuật, tiếp nối là các khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, Từ đó, TH biến chuyển từ hình thức liên môn cơ học sang hình thức TH phức tạp hơn, đòi hỏi sự tìm tòi phương pháp, nội dung TH của GV nhằm gắn kết các đơn vị kiến thức riêng lẻ thành một khối thống nhất, mang lại kết quả tốt cho bài học. Cho đến này, các nghiên cứu cho thấy chưa thể khẳng định DHTH có ưu thế hơn hẳn so với các loại hình DH khác, tuy nhiên, trong những thập niên đầu của thế kỉ 21, DHTH trên thế giới không những không chừng lại mà còn được thể hiện rõ ràng hơn và tạo nên một trào lưu mạnh mẽ được xem như xu hướng.
Những đất nước đứng đầu trong các cuộc thi PISA đều có các điều khoản về chính sách để tích hợp. Phần Lan là một trong nhũng quốc gia được xểp hạng hàng đầu thế giới về giáo dục, đã chuyển sang cách tiếp cận học tập dựa trên dự án mang tính liên ngành trong thiên nhiên. Canada cũng có thứ hạng cao trong đánh giá PISA và có chương trình giảng dạy tích họp. Hàn Quốc, 2009 đã điều chỉnh để có một chương trình giảng dạy tích hợp, ở trường trung học, các môn học chính được tích hợp chung.
Nghiên cứu xã hội tích hợp bao gồm Lịch sử, Kinh tế và Địa lý. Nghiên cứu Khoa học Tích hợp bao gồm Vật lý, Hoá học, Trái đất Khoa học và Sinh học. Bên cạnh đó, đào tạo về DH TH đang được các trường sư phạm của các nước như úc, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Anh,. triến khai và bước đầu có cử nhân sư phạm khoa học như trường Đại học Wollongong, úc.
Ở Hoa Kỳ, trường Đại học Miami đã triển khai đào tạo GV có thể dạy học TH Toán và Khoa học khác với chương trình có thời lượng 4 năm thế hiện rõ nét qua các nội dung: Giảng dạy dựa trên thực hành với cường độ cao, sinh viên được thực tập sâu rộng trong 16 tuần. Sinh viên được học theo các lớp 7 nhỏ ; Chuẩn bị để có thể dạy tất cả các loại bài học có trong chương trình Toán phổ thông, hiếu biết sâu hơn về giảng dạy song ngữ và giáo dục đặc biệt. Tích hợp công nghệ không chỉ hổ trợ sinh viên trong khuôn viên trường học mà còn cung cấp phương tiện để thực hiện công việc thực tập, DH sau khi ra trường ; Chương trình mang tính toàn cầu. Nghiên cứu về khảo sát chương trình khoảng 20 nước của Viện giáo dục Việt Nam cho thấy 100% các nước đó đều xây dựng chương trình theo hướng tích hợp.
Tiêu biểu như Hàn Quốc, Singapore, Malaysia, úc, Pháp, Anh, Mỹ, Canada, .Từ nhưng kết quả trên cho thấy được tầm quan trọng của DHTH trong bối cảnh toàn cầu hoá và cuộc cách mạng công nghiệp làn thứ tư. Ở Việt Nam, DHTH thực ra đã tồn tại khá lâu ở nhiều bậc học với tên gọi như “liên hệ thực tiễn, tính giáo dục” và DHTH ở bậc tiểu học thường nổi bật hơn so với THCS và THPT. Thời gian qua đã có nhiều nghiên cứu về DHTH, theo nhiều cách tiếp cận khác nhau, các quan niệm về TH được phát biểu như: Tiếp cận theo góc độ chương trình, môn học được thể hiện qua: TH chương trình, TH nội dung các môn học, TH phương pháp, TH kiến thức, kỳ năng. Ở đây TH được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức trong một môn học thành một nội dung thống nhất.
Theo Nguyễn Thế Sơn, trong luận án “Xây dựng chủ đề tích hợp trong dạy học môn Toán ở trường THPT” [19] đã nghiên cứu các quy trình xây dựng các chù đề TH, xác định rõ nhiệm vụ của GV, nhiệm vụ học tập của HS thông qua các chủ đề TH cụ thể của môn Toán. Tiếp cận DHTH theo định hướng năng lực của HS [17], tác giả Đồ Hương Trà đã khẳng định, DHTH là DH xung quanh một chủ đề đòi hỏi sử dụng kiến thức, kỹ năng, phương pháp của các môn học thông qua trình tìm tòi nghiên cứu. Điều này sẽ tạo thuận lợi cho việc trao đối và làm giao thoa các mục tiêu DH của các môn học khác nhau. Do đó, tổ chức DHTH mở ra triển 8 vọng cho việc thực hiện DHTH theo tiêp cận năng lực.
Bên cạnh đó, DHTH không chỉ đánh giá kiến thức đã lĩnh hội được, mà chủ yếu đánh giá xem HS có năng lực sử dụng kiến thức trong các tình huống ý nghĩa hay không. Ngoài ra, một số hội thảo khoa học về DHTH đã được tổ chức trong giai đoạn này như: Hội thảo khoa học “DHTH ớ trường THPT đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình và SGK sau năm 2015” do Bộ GD&ĐT tổ chức tại TP HCM 12/2014; Hội thảo khoa học “DHTH - DH phân hóa ở trường THPT đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình và SGK. sau năm 2015” do viện nghiên cứu sư phạm - trường ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh tổ chức vào tháng 12 năm 2012. Các hội thảo có sự tham gia của các nhà khoa học, GV trong cả nước, hội thao thảo luận về các giải pháp vận dụng DHTH trong chương trình THPT đáp ứng được yêu cầu đổi mới chương trình và SGK sau 2015.
Trong các hội thảo này các nhà khoa học và GV THPT trong các tỉnh thành tham gia đã thảo luận về DHTH, cách triển khai DHTH nhằm hướng đến nhũng yêu cầu đối mới của chương trình sau năm 2015 đặt ra. Như vậy, ta có thề thấy rằng việc xây dựng chương trình DHTH đã và đang được Bộ Giáo Dục và Đào tạo, các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, triển khai sâu rộng từ tiểu học đến đại học góp phần nâng cao chất lượng GD và hội nhập thế giới. Lịch sử nghiên cún về giáo dục tài chính Trên thế giới có rất nhiều công trinh nghiên cứu về giáo dục tài chính. Ở đây chúng tôi tham khao bài báo “Financial education in Asia: Assessment and recommendation” được công bố vào năm 2015 của nhóm tác giá Yoshino, Naoyuki, Morgan, Peter J.
Bài báo cung cấp một cái nhìn tổng quan về tình trạng hiện tại của kiến thức tài chính và GDTC ở châu A, với mục tiêu xác định các lồ hống chính sách và khuyến nghị. Bài báo xem xét các lập luận về GDTC, đánh giá thông tin sẵn có về tình trạng hiểu biết về tài chính trong khu vực và đánh giá các chính sách và chương trình về GDTC. Các khảo sát cho thấy tỷ lệ hiểu biết tài chính ở châu Á vần còn thập, 9 bên cạnh đó các chính sách hồ trợ GDTC giữa các khu vực rất khác nhau và có nhiều khoảng cách. Chi phí của những khoảng trống này có thể sẽ tăng lên khi quá trình phát triển tài chính tiến triển và xã hội già đi, tạo ra gánh nặng lớn hơn cho quyết định đầu tư cá nhân để lập kế hoạch tài chính trọn đời.
Trong bài báo “Hiểu biết về tài chính và vai trò của toán học - Thái độ cùa các cá nhân và mối quan hệ với các con số ảnh hường đến sự hiểu biết về tài chính” (Financial literacy and the role of numeracy - How individuals ; attitude and affinity with numbers influence financial literacy) năm 2018 của Tạp chí Kinh tế Hành vi và Thực nghiệm (Journal of Behavioral and Experimental Economics) [28] các tác giả đã chỉ ra rằng: - Hiểu biết về tài chính là một kỳ năng sống quan trọng đối với lợi ích của bản thân cũng như đối với xã hội. Ánh hưởng của hiểu biết về tài chính đối với hành vi tài chính được báo cáo trong mối tương quan các nghiên cứu có thể được thúc đẩy bởi một số biến thứ ba không xác định, chẳng hạn như khả năng nhận thức của cá nhân. - Nhóm tác giả đã nghiên cứu vai trò của các yếu tố nhận thức và cảm xúc trong việc đạt được hiểu biết về tài chính.