CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ VÀ PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ 1. KHÁI NIỆM CHUỖI GIÁ TRỊ 1. Khái niệm chuỗi giá trị Về khái niệm chuỗi giá trị (value chain), cho đến nay có 4 cách tiếp cận chính: khung phân tích của Micheal Porter; phương pháp filliere (chuỗi, mạch); phương pháp tiếp cận toàn cầu, phương pháp phân tích chuỗi giá trị ngành hàng lồng ghép với các mục tiêu vì người nghèo của GTZ và M4P. - Khung phân tích của Micheal Porter Khái niệm chuỗi giá trị được Micheal Porter đưa ra lần đầu vào năm 1980, với ý nghĩa là công cụ quan trọng của doanh nghiệp để tạo ra giá trị tăng thêm cho khách hàng.
Về thực chất, đây là một tập hợp các hoạt động nhằm thiết kế, sản xuất, bán hàng, giao hàng và hỗ trợ sản phẩm của doanh nghiệp. Chuỗi giá trị của Porter (1985) [38] 9 Porter phân biệt chuỗi giá trị của doanh nghiệp với hệ thống giá trị (value system) hay chuỗi giá trị ngành, gồm doanh nghiệp và các nhà phân phối, các nhà cung cấp và mỗi tác nhân trong đó đều có chuỗi giá trị riêng của họ. Các nhà cung cấp cung ứng đầu vào cho doanh nghiệp, tức chuyển các yếu tố đầu vào này từ chuỗi giá trị của họ sang chuỗi giá trị của doanh nghiệp; và doanh nghiệp sau khi tạo ra sản phẩm sẽ chuyển chúng đến chuỗi giá trị của các nhà phân phối; tất cả đều hướng đến tạo ra giá trị cho khách hàng cuối cùng. Chuỗi giá trị Chuỗi giá trị của nhà cung Chuỗi giá trị của người ứng cấp của công ty mua Hình 1.
Hệ thống giá trị của Porter (1985) [38] - Phương pháp Filière Phương pháp Filière được sử dụng để phân tích hệ thống sản xuất nông nghiệp (cao su, bông, cà phê,…) của các nước đang phát triển trong hệ thống thuộc địa của Pháp. Trong bối cảnh đó, phương pháp Filière đặc biệt chú trọng đến cách các hệ thống sản xuất địa phương kết nối với công nghiệp chế biến, sản xuất, thương mại, xuất khẩu và khâu tiêu dùng cuối cùng. Theo cách tiếp cận này khái niệm chuỗi tập trung phần lớn vào các vấn đề của các mối quan hệ vật chất và kĩ thuật được tóm tắt trong sơ đồ dòng chảy các hàng hóa và sơ đồ mối quan hệ chuyển đổi thông qua những người tham gia chuỗi. Nhà nghiên cứu Kaplinsky Rapheal (Kaplinsky và Morris, 2001) đã đưa ra khái niệm về chuỗi giá trị trong phân tích toàn cầu hóa: “Chuỗi giá trị là cả loạt những hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm hoặc một dịch vụ từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau (bao gồm một kết hợp giữa sự biến đổi vật chất và đầu vào các dịch vụ sản xuất khác nhau), đến khi phân phối đến tay người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng”.
Và, một chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả những người tham gia trong chuỗi hoạt động để tạo ra tối đa giá trị cho chuỗi.[32] Theo Kaplinsky và Morris (2001), chuỗi giá trị là hệ thống phức tạp của các thành tố có liên quan với nhau bao gồm các tổ chức công và tư, các thị trường trong nước và nước ngoài, các yếu tố đầu vào, các sản phẩm đầu ra, các nhân tố sản xuất, 10 các trường và viện nghiên cứu, các nguồn lực tự nhiên và môi trường, … [32] - Phương pháp tiếp cận toàn cầu Gereffi và Korzeniewicz (1994) đưa ra quan niệm rằng sản xuất ở nước ngoài được thúc đẩy bởi chuỗi cung ứng do người mua và nhà sản xuất, trong đó nhấn mạnh vai trò của các nhà bán lẻ khổng lồ, các thương hiệu toàn cầu và các nhà sản xuất để điều phối các mạng lưới nhà cung cấp phức tạp với chi phí thấp các nền kinh tế đang phát triển trên toàn thế giới.[29] Khung chuỗi giá trị toàn cầu được Gereffi (1999) xây dựng xung quanh hai trụ cột của 'quản trị' (cách thức kiểm soát và tổ chức chuỗi cung ứng toàn cầu) và 'nâng cấp' (cách các quốc gia và công ty cố gắng tạo, nắm bắt và giữ các tổ chức có giá trị cao trong chuỗi giá trị toàn cầu.[27] Trong nghiên cứu này, cách tiếp cận theo phương pháp Filière được sử dụng cho các chuỗi giá trị ngành hàng “dược liệu”, theo đó chuỗi giá trị là một phức hợp những công việc do nhiều người tham gia khác nhau thực hiện (nhà sản xuất sơ cấp; người thu mua; nhà sản xuất chế biến; nhà phân phối; người cung cấp dịch vụ;.) để biến một nguyên liệu thô thành thành phẩm được bán lẻ. Chuỗi giá trị theo cách định nghĩa này thường bắt đầu từ các hệ thống sản xuất nguyên liệu thô và sản phẩm được chuyển dịch theo các mối liên kết với các doanh nghiệp khác trong chế biến, lắp ráp, kinh doanh sản phẩm. Cách tiếp cận này không xem xét các hoạt động do một doanh nghiệp duy nhất tiến hành mà tập trung vào các liên kết ngược, xuôi theo dòng di chuyển của sản phẩm từ nguyên liệu thô đến sản phẩm hoàn chỉnh và cung ứng cho người tiêu dùng. Kaplinsky và Morris (2001) phân biệt chuỗi giá trị đơn giản và chuỗi giá trị mở rộng.
Trong đó, chuỗi giá trị đơn giản về mặt lý thuyết bao gồm 4 hoạt động cơ bản: Thiết kế, sản xuất, Marketing, tiêu thụ và tái chế với các mối quan hệ tạo giá trị. [3],[12] Theo phương pháp tiếp cận này thì: Chuỗi giá trị là một loạt các hoạt động kinh doanh (hay chức năng) có quan hệ chặt chẽ với nhau, từ việc cung cấp các đầu vào cho đến sản xuất và phân phối một sản phẩm nào đó đến người tiêu dùng cuối cùng. Việc 11 lồng ghép phát triển các chuỗi giá trị ngành hàng với các mục tiêu xóa đói giảm nghèo, tạo cơ hội tham gia thị trường cho người nghèo, phân phối hợp lý hơn thu nhập trên chuỗi giá trị, cải thiện thu nhập cho người nghèo và người yếu thế, … làm cho các kiến thức và phương pháp liên quan đến chuỗi giá trị được phổ biến, tập huấn và triển khai ở các cấp quản lý chính quyền, các bộ ngành và dân cư. Theo cách tiếp cận này, phân tích chuỗi giá trị được tiến hành theo các bước sau: (i) Lập sơ đồ chuỗi giá trị: Sơ đồ chuỗi giá trị thể hiện các chức năng của chuỗi được thực hiện bởi những nhà vận hành chuỗi và nó cũng ô tả được mối liên hệ giữa các tác nhân trong chuỗi như Hình 0.
(ii) Mô tả và lượng hoá chi tiết các chuỗi giá trị - chuỗi giá trị nhà cung ứng, chuỗi giá trị nhà sản xuất, chuỗi giá trị thị trường và chuỗi giá trị khách hàng và (iii) Tính giá trị gia tăng, hiệu quả kinh tế và phân phối thu nhập giữa các tác nhân trong từng chuỗi giá trị và chung cho cả ngành hàng. Một số khái niệm có liên quan 1. Chuỗi cung ứng Một chuỗi cung ứng được định nghĩa là một hệ thống các hoạt động vật chất và các quyết định thực hiện liên tục gắn với dòng vật chất và dòng thông tin đi qua các tác nhân. Theo Lambert và Cooper (2000) [34] một chuỗi cung ứng có 4 đặc trưng cơ bản như sau: + Thứ nhất: Chuỗi cung ứng bao gồm nhiều công đoạn (bước) phối hợp bên trong các bộ phận, phối hợp giữa các bộ phận (tổ chức) và phối hợp dọc.
+ Thứ hai: Một chuỗi bao gồm nhiều doanh nghiệp độc lập nhau, do vậy cần thiết phải có mối quan hệ về mặt tổ chức. + Thứ ba: Một chuỗi cung ứng bao gồm dòng vật chất và dòng thông tin có định hướng, các hoạt động điều hành và quản lý. + Thứ tư: Các thành viên của chuỗi nỗ lực để đáp ứng mục tiêu là mang lại giá trị cao cho khách hàng thông qua việc sử dụng tối ưu nguồn lực của mình. Sản phẩm Trong chuỗi giá trị mỗi tác nhân đều tạo ra sản phẩm của riêng mình.
Trừ những 12 sản phẩm bán lẻ cuối cùng, sản phẩm của mọi tác nhân khác chưa phải là sản phẩm cuối cùng của chuỗi mà chỉ là kết quả của quá trình sản xuất của từng tác nhân. Trong chuỗi giá trị sản phẩm của tác nhân trước là chi phí trung gian của tác nhân liền kề sau nó. Chỉ có sản phẩm của tác nhân cuối cùng trước khi đến tay người tiêu dùng mới là sản phẩm của chuỗi giá trị. Ngành hàng Vào những năm 1960, phương pháp phân tích ngành hàng (Filière) được sử dụng nhằm xây dựng các giải pháp thúc đẩy các hệ thống sản xuất nông nghiệp.
Các vấn đề được quan tâm nhiều nhất đó là làm thế nào để các hệ thống sản xuất tại địa phương được kết nối với công nghiệp chế biến, thương mại, xuất khẩu và tiêu dùng nông sản. Bước sang những năm 1980, phân tích ngành hàng được sử dụng và nhấn mạnh vào giải quyết các vấn đề chính sách của ngành nông nghiệp, sau đó phương pháp này được phát triển và bổ sung thêm sự tham gia của các vấn đề thể chế trong ngành hàng. Đến những năm 1990, có một khái niệm được cho là phù hợp hơn trong nghiên cứu ngành hàng. “Ngành hàng là một hệ thống được xây dựng bởi các tác nhân và các hoạt động tham gia vào sản xuất, chế biến, phân phối một sản phẩm và bởi các mối quan hệ giữa các yếu tố trên cũng như với bên ngoài”.
Theo Fearne: “Ngành hàng được coi là tập hợp các tác nhân kinh tế (hay các phần hợp thành các tác nhân) quy tụ trực tiếp vào việc tạo ra các sản phẩm cuối cùng. Như vậy, ngành hàng đã vạch ra sự kế tiếp của các hành động xuất phát từ điểm ban đầu tới điểm cuối cùng của một nguồn lực hay một sản phẩm trung gian, trải qua nhiều giai đoạn của quá trình gia công, chế biến để tạo ra một hay nhiều sản phẩm hoàn tất ở mức độ của người tiêu thụ” [36]. Nói một cách khác, có thể hiểu ngành hàng là “Tập hợp những tác nhân (hay những phần hợp thành tác nhân) kinh tế đóng góp trực tiếp vào sản xuất tiếp đó là gia công, chế biến và tiêu thụ ở một thị trường hoàn hảo của sản phẩm nông nghiệp” [14] Như vậy, nói đến ngành hàng là ta hình dung đó là một chuỗi, một quá trình khép kín, có điểm đầu và điểm kết thúc, bao gồm nhiều yếu tố động, có quan hệ móc xích với nhau. Sự tăng lên hay giảm đi của yếu tố này có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực tới các yếu tố khác.
Trong quá trình vận hành của một ngành hàng đã tạo ra sự 13 dịch chuyển các luồng vật chất trong ngành hàng đó.