Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh nền kinh tế đối mặt với nhiều biến động và khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2007 – 2009, nguồn nhân lực luôn được xác định là tài sản cốt lõi quyết định trực tiếp đến năng lực cạnh tranh và sự sống còn của mỗi tổ chức. Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp phụ trợ dệt may, nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất đòi hỏi công tác tuyển dụng nhân sự từ nguồn bên ngoài phải được tiến hành liên tục, khoa học và đạt chuẩn chất lượng. Thực tế tại Công ty TNHH Poongchin Vina – doanh nghiệp 100% vốn Hàn Quốc thành lập từ năm 2003 với vốn pháp định 2.000.000 USD đặt tại xã Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, Hà Nội – quy mô nhân sự đã có sự gia tăng mạnh mẽ từ 200 cán bộ công nhân viên năm 2007 lên 350 người vào năm 2009, tương ứng mức tăng trưởng 75%. Cùng với đó, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp tăng từ 75.670 nghìn đồng năm 2007 lên 132.281 nghìn đồng năm 2009, khẳng định đà mở rộng không ngừng của nhà máy sản xuất bông tấm, bông chần và đệm lót may mặc.

Tuy nhiên, công tác thu hút và tuyển chọn nhân lực bên ngoài tại doanh nghiệp vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Ngân sách dành cho tuyển dụng chỉ dao động khiêm tốn từ 5% đến 7% tổng chi phí quản lý, trong khi phòng nhân sự chỉ bố trí từ 1 đến 2 nhân sự phụ trách toàn bộ các khâu. Kênh thông báo tuyển dụng chủ yếu vẫn mang tính thụ động khi có tới 70% thông tin được niêm yết trước cổng công ty và 70% lượng ứng viên đến từ nguồn tự nộp đơn xin việc.

Mục tiêu nghiên cứu tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản trị và tuyển dụng nhân sự từ nguồn bên ngoài; phân tích, đánh giá thực trạng nguồn nhân lực cùng quy trình tuyển dụng tại Công ty TNHH Poongchin Vina giai đoạn 2007 – 2009; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện nhằm chuẩn hóa quy trình, đa dạng hóa nguồn tuyển và nâng cao chất lượng đầu vào cho kế hoạch bổ sung khoảng 100 lao động phục vụ phân xưởng sản xuất mới trong giai đoạn tiếp theo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý luận quản trị nhân lực hiện đại, tích hợp các mô hình học thuật tiêu biểu tại Việt Nam và quốc tế:

Thứ nhất, mô hình quy trình tuyển dụng nhân lực 7 bước của Thạc sĩ Vũ Thùy Dương và Tiến sĩ Hoàng Văn Hải từ Trường Đại học Thương Mại (năm 2006). Mô hình này chuẩn hóa quy trình tuyển dụng bên ngoài qua 7 giai đoạn liên hoàn: định danh công việc cần tuyển; thông báo tuyển dụng; thu nhận và xử lý hồ sơ; tổ chức thi tuyển; đánh giá ứng viên; quyết định tuyển dụng; và tổ chức chương trình hội nhập nhân viên mới.

Thứ hai, mô hình phân tách tuyển mộ và tuyển chọn của tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân từ Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân (năm 2007). Theo hướng tiếp cận này, tuyển dụng được phân định rõ thành hai quá trình: tuyển mộ nhằm thu hút tối đa ứng viên tiềm năng từ thị trường lao động xã hội, và tuyển chọn nhằm sàng lọc, đánh giá năng lực ứng viên qua hệ thống tiêu chuẩn khắt khe gồm 8 bước từ phỏng vấn sơ bộ, trắc nghiệm nhân sự đến thẩm tra thông tin và ra quyết định.

Thứ ba, mô hình cân bằng cung – cầu lao động của tác giả Hà Văn Hội (năm 2007), xác định tuyển dụng là chu trình 5 bước gắn liền với sự biến động của thị trường lao động bên ngoài nhằm tìm kiếm sự tương thích tối ưu giữa năng lực cá nhân và vị trí công việc.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: nguồn nhân lực theo quan điểm của Beng, Fischer & Dornbusch (năm 1995) và Giáo sư Phạm Minh Hạc (năm 2001); quản trị nhân sự trong bối cảnh tái cấu trúc doanh nghiệp; tuyển mộ và tuyển chọn nguồn nhân lực bên ngoài. Nghiên cứu chỉ ra rằng nguồn bên ngoài sở hữu ưu điểm vượt trội về tính đa dạng và tư duy đổi mới nhưng đòi hỏi chi phí đầu tư tài chính và thời gian đào tạo hội nhập cao hơn so với nguồn nội bộ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp linh hoạt giữa phương pháp định tính và định lượng, sử dụng hai nguồn dữ liệu chính:

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phát phiếu điều tra khảo sát với cỡ mẫu N = 10 cán bộ nhân viên chủ chốt thuộc các phòng ban chức năng (Phòng Kinh doanh, Phòng Kế toán, Phòng Hành chính – Nhân sự, Marketing và Trợ lý Tổng Giám đốc) kết hợp phương pháp phỏng vấn sâu trực tiếp Trợ lý Tổng Giám đốc và Trưởng phòng Nhân sự. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm đảm bảo tính am hiểu sâu sắc về thực tiễn tuyển dụng và vận hành nội bộ.

Nguồn dữ liệu thứ cấp bao gồm báo cáo tài chính, báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh, hồ sơ cơ cấu lao động 350 người và các tài liệu quản lý nhân sự nội bộ của doanh nghiệp trong 3 năm liên tục từ năm 2007 đến năm 2009, cùng các văn bản pháp luật hiện hành như Bộ luật Lao động và Giấy phép đầu tư số 193/GP-HN do Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp.

Phương pháp phân tích dữ liệu tập trung vào phân tích thống kê mô tả, phương pháp so sánh số liệu tuyệt đối và tương đối, phân tích tỷ lệ phần trăm cơ cấu biến động qua các năm. Việc lựa chọn phương pháp này giúp lượng hóa chính xác mối tương quan giữa tốc độ tăng trưởng doanh thu, biến động chi phí quản lý và chất lượng nguồn nhân lực được tuyển mới.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu thực nghiệm giai đoạn 2007 – 2009 tại Công ty TNHH Poongchin Vina đã làm nổi bật 4 phát hiện cốt lõi:

Thứ nhất, quy mô lao động tăng trưởng mạnh nhưng cơ cấu tính chất lao động mất cân đối rõ rệt. Tổng số lao động tăng từ 200 người năm 2007 lên 295 người năm 2008 (tăng 47,5%) và đạt 350 người năm 2009 (tăng thêm 18,6%). Trong đó, lao động trực tiếp sản xuất luôn chiếm tỷ trọng áp đảo, tăng từ 166 người (chiếm 83%) năm 2007 lên 300 người (chiếm 85,7%) năm 2009. Ngược lại, tỷ trọng lao động gián tiếp giảm dần từ 17% (34 người) xuống còn 14,3% (50 người). Về giới tính, lao động nam luôn chiếm ưu thế vượt trội với 247 người (chiếm 70,6%) so với 103 lao động nữ (chiếm 29,4%) vào năm 2009.

Thứ hai, cơ cấu trình độ học vấn có bước chuyển dịch tích cực ở nhóm trung cấp chuyên nghiệp nhưng nhóm trình độ cao còn rất mỏng. Năm 2007, lao động phổ thông chiếm tới 61% (122 người), sau đó giảm xuống 55,1% (193 người) vào năm 2009. Tỷ lệ lao động có trình độ cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp tăng từ 34% (68 người) lên 39,1% (137 người) vào năm 2009. Tuy nhiên, lao động có trình độ đại học và trên đại học chỉ chiếm tỷ lệ khiêm tốn 5,7% (20 người) vào năm 2009.

Thứ ba, hoạt động tuyển dụng từ nguồn bên ngoài biến động mạnh theo nhu cầu mở rộng xưởng. Số lượng tuyển mới từ nguồn ngoài năm 2007 là 63 người, tăng vọt lên 100 người vào năm 2008 (tăng 58,7%) khi xưởng đệm 2.520 m2 đi vào hoạt động, và giảm xuống 55 người vào năm 2009 (giảm 45%). Đáng chú ý, năm 2008 công ty tuyển mới 50 lao động có trình độ cao đẳng, trung cấp (tăng 400% so với 10 người của năm 2007) để vận hành dây chuyền kỹ thuật mới.

Thứ tư, kênh tuyển dụng và quy trình đánh giá còn nghèo nàn, mang tính sự vụ. Kết quả khảo sát 10 cán bộ cho thấy 100% khẳng định công ty tuyển 100% từ nguồn bên ngoài; 70% ứng viên đến từ nguồn tự nộp đơn và 20% qua nhân viên giới thiệu; 0% qua trường đào tạo hay trung tâm việc làm. 70% thông báo tuyển dụng chỉ dán trước cổng công ty; 60% đánh giá chú trọng kinh nghiệm thực tế hơn bằng cấp; 70% quy trình thi tuyển chỉ dựa vào phỏng vấn vấn đáp đơn thuần và 70% cán bộ đánh giá chất lượng tuyển dụng của công ty chỉ dừng lại ở mức trung bình.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm phản ánh rõ nét đặc trưng của một doanh nghiệp sản xuất dệt may FDI trong giai đoạn đầu mở rộng quy mô. Việc công ty liên tục xây dựng thêm phân xưởng mới (xưởng đệm năm 2007 và xưởng số 3 năm 2009) tạo áp lực tuyển dụng số lượng lớn lao động trực tiếp trong thời gian ngắn, dẫn đến tình trạng coi trọng số lượng hơn chất lượng.

Nguyên nhân căn bản của những hạn chế trên bắt nguồn từ việc ngân sách tuyển dụng bị khống chế ở mức quá thấp (5% đến 7% tổng chi phí), nguồn lực phòng nhân sự quá mỏng (1 – 2 chuyên viên), và quy trình tuyển dụng bị cắt bớt các bước trọng yếu như phân tích định danh công việc và khám sức khỏe đầu vào. Việc phụ thuộc tới 70% vào kênh dán thông báo tại cổng nhà máy và hồ sơ tự nộp khiến công ty hoàn toàn bị động, không tiếp cận được nguồn lao động chất lượng cao đã qua đào tạo bài bản.

Khi đối chiếu với các công trình nghiên cứu tại các doanh nghiệp cùng ngành dệt may, thực trạng này tạo ra hệ quả tiêu cực là tỷ lệ lao động phải đào tạo lại sau tuyển dụng rất cao, gia tăng chi phí ẩn trong quá trình vận hành. Về mặt trình bày trực quan, dữ liệu nghiên cứu có thể được biểu diễn trực quan thông qua biểu đồ cột chồng thể hiện sự chuyển dịch cơ cấu 3 nhóm trình độ (Đại học, Cao đẳng/Trung cấp, Phổ thông) qua 3 năm, kết hợp biểu đồ tròn phân bổ nguồn ứng viên (70% tự nộp, 20% giới thiệu, 10% khác) và bảng đối chiếu tăng trưởng doanh thu so với biến động số lượng nhân sự tuyển mới.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để các tồn tại và chuẩn bị nguồn lực cho kế hoạch tuyển dụng khoảng 100 nhân sự mới khi xưởng sản xuất số 3 đi vào hoạt động ổn định, doanh nghiệp cần triển khai 4 nhóm giải pháp đồng bộ:

Thứ nhất, chuẩn hóa và tái cấu trúc quy trình tuyển dụng 7 bước theo chuẩn học thuật. Ban Giám đốc cùng Phòng Hành chính – Nhân sự cần phối hợp ban hành quy chế tuyển dụng mới ngay trong Quý 1 năm 2010. Trong đó, bắt buộc triển khai đầy đủ bước xây dựng bản mô tả công việc, bản tiêu chuẩn công việc cho từng vị trí và đưa quy trình kiểm tra sức khỏe tổng quát vào khâu thẩm định bắt buộc, nâng tỷ lệ tuyển dụng đúng chuyên môn ngành may lên trên 85%.

Thứ hai, đa dạng hóa và chủ động mở rộng mạng lưới tuyển mộ bên ngoài. Phòng Nhân sự cần ký kết thỏa thuận hợp tác đào tạo và tuyển dụng với ít nhất 3 đến 5 trường đại học, cao đẳng kỹ thuật dệt may và trung tâm dạy nghề tại Hà Nội trong giai đoạn 2010 – 2012. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ trọng ứng viên thu hút từ các cơ sở đào tạo chính quy lên 30%, giảm mức độ phụ thuộc vào nguồn tự nộp đơn thụ động từ 70% hiện tại xuống dưới 40%.

Thứ ba, gia tăng tỷ trọng ngân sách tài chính và bổ sung nhân sự chuyên trách. Ban Giám đốc cần phê duyệt nâng hạn mức chi phí dành cho công tác tuyển dụng từ mức 5% – 7% lên mức 10% – 12% tổng chi phí quản lý doanh nghiệp trong kế hoạch tài chính năm 2010. Đồng thời, bổ sung thêm 1 đến 2 chuyên viên tuyển dụng có năng lực nhằm chuyên môn hóa quy trình thiết kế bài thi trắc nghiệm và tổ chức đánh giá ứng viên.

Thứ tư, thiết lập cơ chế phối hợp liên phòng ban và phát triển thương hiệu nhà tuyển dụng. Lãnh đạo các bộ phận chuyên môn như Phòng Sản xuất, Phòng Kinh doanh, Phòng Thiết kế phải tham gia trực tiếp vào hội đồng phỏng vấn cùng Phòng Nhân sự. Doanh nghiệp cần xây dựng chuyên mục tuyển dụng chuyên nghiệp trên website công ty và các cổng thông tin việc làm trực tuyến từ nửa cuối năm 2010, nhằm thu hút đội ngũ nhân lực trẻ, giảm tỷ lệ đào thải sau thời gian thử việc xuống dưới mức 5%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

Thứ nhất, Ban Giám đốc và Trưởng phòng Nhân sự tại các doanh nghiệp FDI sản xuất công nghiệp: Tài liệu cung cấp góc nhìn thực tiễn về cách thức quản trị nguồn nhân lực trong giai đoạn mở rộng nhà xưởng, giúp các nhà quản lý nhận diện rủi ro khi cắt giảm chi phí tuyển dụng và đưa ra giải pháp cân đối nguồn ngân sách từ 5% lên mức tối ưu 10% – 12%.

Thứ hai, Chuyên viên Tuyển dụng và Thu hút nhân tài (Talent Acquisition Specialist): Cung cấp cẩm nang thực hành chi tiết về quy trình 7 bước tuyển chọn, phương pháp thiết lập tiêu chuẩn công việc và cách thức phối hợp với các trưởng bộ phận chuyên môn trong việc phỏng vấn đánh giá ứng viên.

Thứ ba, Giảng viên, Nghiên cứu sinh và Sinh viên chuyên ngành Quản trị Kinh doanh, Quản trị Nhân lực: Luận văn là một case study thực chứng điển hình về biến động nhân sự, chuyển dịch cơ cấu lao động (từ 200 lên 350 người) và bài toán tuyển dụng thời kỳ khủng hoảng kinh tế tại doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài.

Thứ tư, Cơ quan quản lý lao động và các Trung tâm Dịch vụ việc làm: Giúp các cơ quan quản lý nắm bắt rõ hơn nhu cầu thực tế của khối doanh nghiệp sản xuất FDI đối với nhóm lao động trực tiếp (chiếm hơn 85%), từ đó xây dựng các chương trình kết nối cung – cầu lao động hiệu quả hơn thông qua các sàn giao dịch việc làm.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Vì sao Công ty Poongchin Vina lại ưu tiên tuyển dụng nhân sự từ nguồn bên ngoài thay vì đề bạt nội bộ? Trả lời: Doanh nghiệp trong giai đoạn 2007 – 2009 liên tục mở rộng quy mô, xây dựng thêm nhà xưởng mới 2.520 m2 dẫn đến nhu cầu lao động tăng 75% (từ 200 lên 350 người). Nguồn nhân lực nội bộ không đủ số lượng để đáp ứng nhu cầu tăng vọt này, buộc công ty phải tuyển dụng 100% từ nguồn bên ngoài để bổ sung công nhân may chần bông và thợ vận hành máy móc.

Câu hỏi 2: Điểm hạn chế lớn nhất trong quy trình tuyển dụng tại công ty giai đoạn 2007 – 2009 là gì? Trả lời: Hạn chế lớn nhất là phương thức tuyển mộ quá thụ động khi có tới 70% ứng viên tự nộp đơn và 70% thông báo dán trước cổng công ty. Quy trình tuyển chọn bị rút ngắn, bỏ qua bước khám sức khỏe và trắc nghiệm chuyên môn, trong khi ngân sách tuyển dụng quá hạn hẹp chỉ chiếm 5% đến 7% chi phí quản lý.

Câu hỏi 3: Cơ cấu trình độ của đội ngũ nhân sự tại doanh nghiệp biến động như thế nào qua 3 năm nghiên cứu? Trả lời: Tỷ lệ lao động phổ thông giảm từ 61% năm 2007 xuống 55,1% năm 2009. Tỷ lệ lao động có trình độ cao đẳng, trung cấp tăng từ 34% lên 39,1% (đạt 137 người năm 2009). Tuy nhiên, tỷ lệ nhân sự có trình độ đại học và trên đại học vẫn ở mức rất thấp, chỉ chiếm 5,7% (20 người) vào năm 2009.

Câu hỏi 4: Phương thức đánh giá và thi tuyển ứng viên tại doanh nghiệp được thực hiện ra sao? Trả lời: Doanh nghiệp chủ yếu sử dụng hình thức phỏng vấn vấn đáp đơn thuần (chiếm 70% ý kiến khảo sát) và 60% cán bộ cho biết công ty coi trọng kinh nghiệm thực tế hơn bằng cấp học vấn. Việc thiếu vắng bài thi kiểm tra tay nghề chuẩn hóa dẫn đến việc phải đào tạo lại sau khi tuyển dụng.

Câu hỏi 5: Doanh nghiệp cần chuẩn bị những điều kiện gì cho kế hoạch tuyển dụng 100 lao động mới sắp tới? Trả lời: Doanh nghiệp cần nâng ngân sách tuyển dụng lên mức 10% – 12% tổng chi phí quản lý, bổ sung thêm chuyên viên nhân sự, chủ động liên kết với 3 đến 5 cơ sở đào tạo nghề dệt may tại Hà Nội, và áp dụng quy trình đánh giá chuẩn 7 bước kết hợp kiểm tra sức khỏe và tay nghề thực tế.

Kết luận

Nghiên cứu về công tác tuyển dụng nhân sự từ nguồn bên ngoài tại Công ty TNHH Poongchin Vina giai đoạn 2007 – 2009 đã đúc kết các kết quả khoa học và thực tiễn mang tính then chốt:

  • Khẳng định sự gắn kết chặt chẽ giữa mở rộng sản xuất kinh doanh và quy mô nhân sự, thể hiện qua mức tăng trưởng lao động 75% (từ 200 lên 350 người) và doanh thu tăng trưởng trên 74% trong 3 năm.
  • Làm rõ thực trạng công tác tuyển dụng còn mang nặng tính thụ động khi 70% phụ thuộc vào hồ sơ tự nộp, ngân sách eo hẹp chỉ chiếm 5% đến 7% và phòng nhân sự chỉ có từ 1 đến 2 nhân viên phụ trách.
  • Chỉ ra sự chuyển biến tích cực trong cơ cấu nhân sự khi nhóm lao động có trình độ cao đẳng, trung cấp tăng lên 39,1%, nhưng nhóm đại học vẫn ở mức thấp 5,7%.
  • Chuẩn hóa khung lý thuyết tuyển dụng 7 bước và đề xuất lộ trình mở rộng kênh liên kết đào tạo nghề nhằm giảm tỷ lệ phụ thuộc vào kênh tự nộp xuống dưới 40%.
  • Xây dựng cơ chế phối hợp liên phòng ban trong đánh giá ứng viên, tạo nền tảng vững chắc cho kế hoạch tuyển dụng thành công 100 nhân sự cho phân xưởng mới.

Đóng góp chính của đề tài là cung cấp giải pháp toàn diện giúp doanh nghiệp chuyển đổi từ phương thức tuyển dụng thụ động sang chủ động thu hút nhân tài. Lộ trình thực hiện cần được khởi động ngay từ Quý 1 năm 2010 với việc ban hành quy chế tuyển dụng mới và ký kết hợp tác đào tạo. Các nhà quản lý doanh nghiệp FDI sản xuất công nghiệp và các nhà nghiên cứu nhân sự được khuyến khích khai thác bộ dữ liệu thực chứng này để nâng cao hiệu quả hoạch định nguồn nhân lực trong thực tiễn.