mở đầu chuẩn bị cho hoạt động tranh tụng. Nó được bắt đầu từ thời điểm khai mạc phiên tòa của chủ tọa phiên tòa và kết thúc trước khi kiểm sát viên công bố cáo trạng. Giai đoạn kiểm tra công khai các chứng cứ về vụ án: Giai đoạn này được bắt đầu từ thời điểm Kiểm sát viên công bố cáo trạng và kết thúc trước khi kiểm sát viên trình bày lời luận tội. Đây là giai đoạn kiểm tra công khai các chứng cứ về vụ án do HĐXX tiến hành với sự tham gia của Kiểm sát viên, Luật sư, người bảo vệ quyền lợi cho đương sự và những người tham gia tố tụng khác.
Tranh luận giữa các bên: Đây là giai đoạn trung tâm, là đỉnh điểm của quá trình tranh tụng giữa các bên tại phiên tòa. Giai đoạn này được bắt đầu từ thời điểm Kiểm sát viên trình bày lời luận tội và kết thúc trước khi HĐXX vào phòng nghị án. Giai đoạn đánh giá và công bố kết quả tranh tụng: Đây là giai đoạn có vai trò quyết định toàn bộ quá trình tranh tụng. Giai đoạn này được bắt đầu từ thời điểm HĐXX nghị án và kết thúc sau khi tuyên án.
Nghị án và tuyên án là giai đoạn HĐXX đánh giá và công bố kết quả tranh tụng. HĐXX thực hiện hoạt động này một cách độc lập tại phòng nghị án, không có sự tham gia của bất cứ ai. Là người có nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm “Tiến hành tố tụng tại phiên tòa; công bố cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, các quyết định khác của VKSND về việc buộc tội đối với bị cáo; xét hỏi, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, luận tội, tranh luận, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa, phiên họp” [45, điểm l Khoản 1 Điều 42] thì Kiểm sát 17 viên được phân công THQCT và KSXX tại phiên tòa sơ thẩm hình sự phải tham gia vào quá trình tranh tụng.Tuy vậy, Kiểm sát viên THQCT và KSXX có phải tham gia vào toàn bộ quá trình tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hay không vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng quá trình tranh tụng tại phiên toà được bắt đầu từ thời điểm khai mạc phiên tòa và kết thúc sau khi tuyên án, tức là bao gồm phần xét hỏi, tranh luận, nghị án và tuyên án, trong đó tranh luận là giai đoạn thể hiện đậm nét nhất của hoạt động tranh tụng.
Theo tác giả luận văn, cách hiểu phạm vi tranh tụng như quan điểm này quá rộng, vì trong thực tiễn xét xử, phần thủ tục phiên toà chỉ được coi là giai đoạn chuẩn bị của quá trình tranh tụng, hơn nữa trong giai đoạn nghị án và tuyên án, Kiểm sát viên không thực hành hoạt động tranh tụng nữa mà thực hiện hoạt động kiểm sát xét xử, vì vậy, Kiểm sát viên không thực hiện tranh tụng trong hai giai đoạn này. Có quan điểm khác cho rằng quá trình hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên toà xét sử sơ thẩm án hình sự được tiến hành từ giai đoạn khai mạc phiên tòa đến khi kết thúc giai đoạn tranh luận. Quan điểm này giới hạn phạm vi hẹp hơn, tuy vậy vẫn xác định Kiểm sát viên tham gia tranh tụng cả trong phần thủ tục phiên toà, tức là cả trong giai đoạn chuẩn bị tranh tụng. Theo quan điểm của tác giả luận văn, từ việc xác định: Tranh tụng tại phiên tòa là những hoạt động tố tụng được tiến hành tại phiên tòa xét xử bởi hai bên tham gia tố tụng, nhằm bảo vệ ý kiến, luận điểm của mỗi bên và bác bỏ ý kiến, luận điểm của phía bên kia, dưới sự điều khiển, quyết định của Tòa án với vai trò trung gian, trọng tài thì tranh tụng của Kiểm sát viên trong phiên toà hình sự sơ thẩm là quá trình Kiểm sát viên đưa ra quan điểm, chứng cứ, tranh luận của mình với bên bị buộc tội trên cơ sở sự thật khách quan của vụ án và quy định pháp luật hiện hành để HĐXX có cơ sở rõ ràng, chắc chắn đưa ra phán quyết chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Từ đây, tác giả luận văn xác định hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên toà sơ thẩm hình sự bắt đầu từ lúc Kiểm sát viên đọc cáo trạng và kết thúc khi kết thúc phần tranh luận. Tức là, hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên toà hình sự sơ thẩm nằm ở trong hai giai đoạn là giai đoạn kiểm tra công khai các chứng cứ về vụ án và giai đoạn tranh luận giữa các bên. 18 Từ những phân tích trên ta có thể khẳng định “tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm hình sự” và “tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm hình sự” là hai thuật ngữ không đồng nhất nhưng giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, trong đó “tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm hình sự” là cái chung (tổng thể) và “tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm hình sự” là cái riêng (bộ phận cấu thành). Và như vậy “tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm hình sự” chỉ là một bộ phận cấu thành của tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm hình sự và là sự thể hiện một cách tập trung, rõ nét nhất của quá trình tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm hình sự.
Có thể chỉ rõ sự khác nhau giữa “tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm hình sự” và “tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm hình sự” ở các khía cạnh sau: Một là, về phạm vi: Tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự gắn với hai giai đoạn của quá trình tranh tụng là giai đoạn kiểm tra công khai các chứng cứ về vụ án và giai đoạn tranh luận giữa các bên, được bắt đầu từ thời điểm Kiểm sát viên đọc cáo trạng và kết thúc trước thời điểm HĐXX vào phòng nghị án. Còn tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự gắn với giai đoạn tranh luận giữa các bên, được bắt đầu bằng lời luận tội hoặc phát biểu của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án và kết thúc trước thời điểm HĐXX vào phòng nghị án. Hai là, về nội dung: Nội dung tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự bao gồm tất cả các nội dung gắn với cả hai giai đoạn kiểm tra công khai các chứng cứ về vụ án và giai đoạn tranh luận giữa các bên như: Kiểm sát viên đọc cáo trạng, Kiểm sát viên tham gia vào quá trình điều tra công khai (xét hỏi) nhằm kiểm tra xác minh các chứng cứ và các tình tiết về vụ án dưới sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa (ở phần xét hỏi); các bên đưa ra quan điểm, lập luận của mình về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án (về đánh giá chứng cứ, về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về áp dụng pháp luật, hình phạt đối với bị cáo, về phần dân sự, về xử lý vật 19 chứng…) đề nghị Hội đồng xẻ xử chấp nhận hay bác bỏ khi ra phán quyết về vụ án (ở phần tranh luận). So với tranh tụng của Kiểm sát viên, tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự có nội dung hẹp hơn và chỉ bao gồm các vấn đề Kiểm sát viên đưa ra quan điểm, tài liệu, chứng cứ, đồng thời phân tích, lập luận để trả lời, đối đáp lại những câu hỏi, quan điểm về vụ án có tính chất đối lập với Kiểm sát viên từ phía bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác để làm sáng tỏ các tình tiết khách quan của vụ án, giúp cho HĐXX ra một bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Phân biệt tranh luận của Kiểm sát viên với tranh luận của các chủ thể khác tại phiên tòa hình sự sơ thẩm Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm hình sự là một giai đoạn trong tiến trình xét xử tại một phiên tòa sơ thẩm hình sự. Trong đó, để được HĐXX đồng ý với quan điểm của mình, các bên tham gia tranh luận phải đưa ra những lý lẽ, những ý kiến, những dẫn chứng cụ thể để bảo vệ quan điểm của mình và phản bác lại quan điểm của bên đối lập, để từ đó thuyết phục được HĐXX chấp nhận quan điểm của mình. Căn cứ vào mục đích, vai trò, địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia tranh luận, chúng ta có thể chia ra chủ thể tham gia tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm thành hai nhóm: Một là, là các chủ thể thực hiện chức năng buộc tội, bao gồm: Kiểm sát viên, bị hại và người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền lợi của bị hại. Hai là, là các chủ thể thực hiện chức năng gỡ tội, bao gồm: Bị cáo, người bào chữa và người đại diện hợp pháp của bị cáo.
Ba là, các chủ thể khác tham gia vào hoạt động tranh luận nhằm giúp Tòa án xác định sự thật khách quan, giải quyết đúng đắn các vấn đề của vụ án: Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người giám định… Còn đối với chủ thể thực hiện chức năng xét xử là HĐXX – gồm Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân thì không thực hiện việc tranh luận mà chỉ xét hỏi và ngồi nghe lời trình bày của các bên cùng với những chứng cứ khác để đưa ra phán quyết cuối cùng. 20 Như vậy, tham gia vào tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm hình sự có nhiều chủ thể khác nhau. Do vị trí, vai trò khác nhau nên mỗi chủ thể tham gia tranh luận thực hiện một chức năng hoặc một phần chức năng tố tụng nhất định. Chẳng hạn, Luật sư cũng là chủ thể tham gia tranh luận nhưng công việc của luật sư là công việc do sự thỏa thuận giữa bị cáo và luật sư, thông qua thỏa thuận đó, luật sư sẽ là người tranh luận để bào chữa cho bị cáo.
Việc tranh tụng của luật sư là nhằm mục đích bào chữa, gỡ tội cho bị cáo. Hay bị cáo tham gia vào tranh luận là nhằm tự bào chữa cho mình để gỡ tội, đó là quyền của bị cáo được pháp luật ghi nhận.