Chương 1: Các vấn đề lý luận cơ bản về chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại. Chương 2: Phân tích thực trạng chất lượng tín dụng và đánh giá chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quốc Dân – chi nhánh Huế. Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quốc Dân – chi nhánh Huế. 7 PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ VÀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Khái quát về hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái quát về Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại Theo khoản 1 Điều 4 Luật tổ chức tín dụng của Quốc Hội năm 2010 thì ngân hàng thương mại được định nghĩa như sau:“Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Theo luật các Tổ chức tín dụng: “Ngân hàng thương mại là loại hình Ngân hàng được thực hiện tất cả cả các hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật này nhằm mục tiêu lơi nhuận”.
Từ những nhận định trên có thể thấy ngân hàng thương mại vẫn là loại hình ngân hàng phổ biến và quan trọng nhất. Nó cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội. Chức năng của Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ đóng vai trò rất lớn trong quá trình thúc đẩy phát triển kinh tế với 3 chức năng cơ bản như sau: a) Chức năng trung gian tín dụng Thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đóng vai trò là “cầu nối” giữa người thừa vốn và người cần vốn. 8 Gửi tiền Ngân Người dư hàng Cho vay Người thừa vốn thương cần vốn Uỷ thác đầu Đầu tư tư mại Sơ đồ 1.1: Chức năng trung gian tín dụng (Nguồn: Nguyễn Văn Tiến (2009), Tài chính Tiền tệ, NXB Thống kê ) Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của Ngân hàng thương mại vì nó phản ánh bản chất của Ngân hàng thương mại.
Với chức năng này, Ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay đồng thời vừa đóng vai trò là người cho vay. Với chức năng trung gian tín dụng, Ngân hàng thương mại đã góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia, bao gồm người gửi tiền, ngân hàng và người đi vay, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Đặc biệt, đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản xuất được thực hiện và để mở rộng quy mô sản xuất. Với chức năng này, Ngân hàng thương mại đã biến vốn nhàn rỗi thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển.
b) Chức năng trung gian thanh toán Ngân hàng thương mại làm trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng. Ở đây Ngân hàng thương mại đóng vai trò là người “thủ quỹ” cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là người giữu tài khoản của họ. Ngân hàng thương mại thực hiện chức năng trung gian thanh toán trên cơ sở thực hiện chức năng trung gian tín dụng. Bởi vì thông qua việc nhận tiền gửi, ngân hàng đã mở cho khách hàng tài khoản tiền gửi để theo dõi các khoản thu, chi.
Với chức năng này, ngân hàng sẽ cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán thuận lợi như séc, uỷ nhiệm chi/thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng,… 9 c) Chức năng tạo tiền Tạo tiền là một chức năng quan trọng phản ánh rõ bản chất của NHTM. Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các Ngân hàng thương mại với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. d) Chức năng cung ứng các dịch vụ ngân hàng Với chức năng này, ngân hàng thương mại nhận tiền gửi, giữ tiền, bảo quản tiền, thực hiện yêu cầu rút tiền, chi tiền cho khách hàng của mình là các chủ thể trong nền kinh tế.
Các nghiệp vụ kinh doanh cơ bản của Ngân hàng thương mại Với mỗi loại hình Ngân hàng khác nhau thì có các nghiệp vụ kinh doanh cơ bản khác nhau và các Ngân hàng thương mại cũng vậy. Với những đặc trưng, chức năng riêng biệt của mình thì Ngân hàng thương mại có các nghiệp vụ cơ bản sau: a) Nghiệp vụ huy động vốn Huy động vốn là nghiệp vụ đầu tiên khởi tạo nguồn vốn cho các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng nên có thể nói đây là nghiệp vụ tiền đề và quan trọng nhất. Vốn được ngân hàng huy động dưới nhiều hình thức khác nhau như: tiền gửi, đi vay, phát hành giấy tờ có giá. Trong đó, nguồn tiền gửi là lớn nhất và có vai trò quan trọng trong việc hình thành nên các khoản vay đối với khách hàng.
Ngân hàng thương mại phải đa dạng hóa các hình thức huy động vốn với lãi suất hấp dẫn để có thể huy động được nhiều nguồn vốn có chất lượng tốt. b) Nghiệp vụ sử dụng vốn Tín dụng là nghiệp vụ có vị trí rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của mỗi Ngân hàng thương mại và đây là nghiệp vụ sinh lời lớn nhất của Ngân hàng thông qua thu lãi cho vay. Tín dụng bao gồm các nghiệp vụ sau: 10 - Cho vay tiêu dùng: Cung cấp vốn cho đối tượng khách hàng là các cá nhân và các hộ gia đình nhằm đáp ứng nhu cầu mua sắm sinh hoạt hàng ngày. Hiện nay, cho vay tiêu dùng đã và đang đóng vai trò không thể thiếu của các ngân hàng.
- Cho vay thương mại: Cung cấp vốn cho các khách hàng doanh nghiệp, đáp ứng kịp thời và đầy đủ nhu cầu về vốn phục vụ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. - Tài trợ cho dự án: Các NHTM tiến hành tài trợ cho các dự án bằng cách bỏ toàn bộ hoặc một phần vốn vào một dự án thường là các dự án xây dựng nhà máy mới. - Thuê tài chính: các ngân hàng cho phép khách hàng của mình có thể lựa chọn thuê các thiết bị, máy móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua, trong đó NHTM là người đứng ra bỏ vốn mua máy móc, thiết bị đó và cho khách hàng thuê lại. c) Nghiệp vụ ngân quỹ Tính “an toàn” là một trong những nhân tố mà NHTM phải đặc biệt quan tâm để đạt được lợi nhuận.
Vì vậy, bên cạnh việc cho vay và đầu tư, ngân hàng phải sử dụng một phần vốn huy động được để đảm bảo tính an toàn về khả năng thanh toán và thực hiện các quy định dự trữ bắt buộc do Ngân hàng Nhà nước đề ra. d) Các hoạt động khác Ngoài ba nghiệp vụ cơ bản trên, NHTM còn có các nghiệp vụ trung gian góp phần mang lại lợi nhuận cho bản thân Ngân hàng như: hoạt động mua bán ngoại tệ, dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán, dịch vụ bảo hiểm, tư vấn tài chính tiền tệ,… 1. Khái niệm tín dụng và tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm tín dụng Qua lịch sử phát triển, tín dụng là một phạm trù kinh tế và cũng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa.
Nó là một động lực thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển lên một giai đoạn cao hơn. Tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế xã hội; ngày nay, tín dụng được hiểu theo ngôn ngữ thông thường là quan hệ vay mượn dựa trên 11 những nguyên tắc: Người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định và người đi vay chỉ sử dụng đối tượng vay trong một thời gian nhất định. Theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng 2010: Tín dụng là một quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay, là sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị hay hiện vật theo những điều kiện mà hai bên thoả thuận. Tín dụng ngân hàng Khái niệm tín dụng ngân hàng thương mại được định nghĩa như sau: “Tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng chấp thuận để khách hàng sử dụng một lượng tài sản (bằng tiền, tài sản thực hay uy tín) trên cơ sở lòng tin khách hàng có khả năng hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn” [5, Trg.
Tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng quan trọng nhất, phổ biến nhất trong nền kinh tế. Đặc điểm của tín dụng: - Chủ thể thực hiện là các Ngân hàng thương mại là người cho vay theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. - Tính hiệu quả: Để đảm bảo lợi nhuận thì bất kỳ khách hàng nào vay vốn đều phải có phương án kinh doanh khả thi, tài sản đảm bảo có tính hiệu quả thiết thực để đảm bảo cho NHTM thu hồi được nợ gốc và lãi, tạo điều kiện bảo toàn và phát triển vốn. - Thời gian và phạm vi : Thời gian cho vay của NHTM rất đa dạng bao gồm thời gian ngắn hạn, trung hạn hay dàn hạn.
Phạm vi cho vay rất rộng, khách hàng của các NHTM là các tổ chức , cá nhân có nhu cầu vay vốn, có khả năng trả nợ để thực hiện nhu cầu đầu tư, sản xuất, kinh doanh phục vụ đời sống. Các hình thức tín dụng của ngân hàng TÍN DỤNG Theo mục đích Cho vay bất động Cho vay cá nhân sản Cho vay công Cho vay nông nghiệp nghiệp Theo mức độ tín Theo hình thái Theo mục đích Theo mức độ rủi Theo thời hạn Theo hình thức nhiệm giá trị sử dụng ro Sản xuất và lưu Chiết khấu Ngắn hạn Có đảm bảo Bằng tiền Lành mạnh thông hàng hoá thương phiếu Trung hạn Không đảm bảo Bằng tài sản Tiêu dùng Cho vay Có vấn đề Nợ quá hạn có Dài hạn Bão lãnh khả năng thu hồi Nợ quá hạn khó Cho thuê đòi Sơ đồ 1.