CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tín dụng doanh nghiệp tại Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng, tín dụng doanh nghiệp Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ chủ thể sở hữu sang chủ thể sử dụng, trên cơ sở phải có sự hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn ban đầu (Lê Thị Tuyết Hoa, 2017). Việc hình thành và phát triển của tín dụng bắt nguồn từ quá trình sản xuất hàng hóa, vật chất.
Trong quá trình phát triển, đến một giai đoạn nhất định, việc tạo ra hàng hóa lưu thông làm bộc lộ những mâu thuẫn tất yếu, vốn đã tồn tại song song trong sự lưu thông của tiền tệ. Nội dung này bao gồm các vấn đề sau: - Bắt nguồn từ đặc tính tiền tệ lưu hành một cách tuần hoàn trong mọi khía cạnh của một nền kinh tế, dẫn đến việc thừa hay thiếu vốn tạm thời phát sinh tại một số thời điểm nhất định trong chu kỳ kinh doanh. - Ngoài ra, xuất phát từ nhu cầu chi tiêu, đầu tư và mong muốn sinh lợi của đa dạng các chủ thể tồn tại trong nền kinh tế. Tín dụng ngân hàng là quan hệ thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng vốn giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (các NHTM/TCTD) giao hoặc cam kết giao cho bên nhận tín dụng (Doanh nghiệp, cá nhận hoặc chủ thể khác) một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi (Bùi Diệu Anh, 2011).
Xét theo quan điểm này, tín dụng ngân hàng được xem là mối quan hệ tín dụng giữa các chủ thể tham gia vào nền kinh tế với ngân hàng, mà trong đó ngân hàng được nhìn nhận như một định chế tài chính đóng vai trò trung gian điều tiết và dịch chuyển nguồn vốn gián tiếp thông qua các nghiệp vụ của mình từ đó điều tiết lại nguồn tiền lưu thông trong nền kinh tế. Do đó trong những mối quan hệ tín dụng đã thiết lập, bán chất của tiền tệ đã 1 được phân tách một cách độc lập giữa quyền sử dụng và quyền sở hữu. Cụ thể trong lập luận này, Tín dụng ngân hàng được chia thành những mối quan hệ sau: - Quan hệ vay mượn có sự hoàn trả cả vốn lẫn lãi được xác định trong khoản thời gian cụ thể; - Quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ chủ sở hữu vốn sang người sử dụng vốn, mối quan hệ này được xây dựng trên cơ sở bình đẳng, hợp tác giữa hai bên cùng có lợi; - Quan hệ chuyển nhượng một cách tạm thời quyền sử dụng vốn. Tín dụng ngân hàng đối với hoạt động tài chính của doanh nghiệp được nhìn nhận như là mối quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp với ngân hàng, cùng tồn tại hoạt động và vận hành đặt trong mối quan hệ tương hỗ của nền kinh tế.
Phân loại tín dụng ngân hàng đối với khách hàng doanh nghiệp Dựa vào các phương thức và tiêu chí khác nhau, tín dụng ngân hàng đối với khách hàng doanh nghiệp thành nhiều loại, nhằm vừa đáp ứng các mục đích trong quản trị, vừa để phân tích đánh giá hoạt động tín dụng hiện hành. Căn cứ theo mục đích sử dụng vốn - Tín dụng phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh: Ngân hàng thực hiện việc cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế trên hầu hết lĩnh vực: nông nghiệp, thương nghiệp, công nghiệp các loại, giao thông vận tải, thương mại, viễn thông, dịch vụ. - Tín dụng phục vụ mục đích tiêu dùng: ngân hàng cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư, mua sắm các vật dụng, công cụ, dụng cụ thiết yếu phục vụ quá trình đầu tư, mở rộng, phát triển, hay duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Căn cứ theo thời hạn cấp tín dụng - Tín dụng ngắn hạn: là việc cấp tín dụng trong thời hạn tối đa là 12 tháng, được dùng vào mục đích bù đắp sự thiếu hụt nguồn vốn lưu động của các doanh nghiệp và đáp ứng kịp thời các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn.
Loại hình tín dụng này chiếm tỷ trọng lớn nhất trong dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng. - Tín dụng trung hạn: là việc cấp tín dụng trong thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng. Loại hình tín dụng trong thời hạn này thường được các doanh nghiệp lựa chọn để cải tiến hay đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư mua sắm tài sản cố định hay xây dựng các dự án ở quy mô nhỏ và thời hạn thu hồi vốn nhanh tương dương với thời hạn cấp tín dụng. - Tín dụng dài hạn: là hình thức cấp tín dụng có thời hạn trên 60 tháng.
Loại hình tín dụng này dùng để đáp ứng nhu cầu dài hạn của các doanh nghiệp như: trang bị các thiết bị phương tiện vận tải có quy mô lớn, đáp ứng nhu cầu xây dựng nhà xưởng, hoặc các công trình xây dựng nhà máy, sân bay, cầu đường, trường học … 1. Căn cứ theo phương thức cấp tín dụng - Cho vay: là định nghĩa là hoạt động ngân hàng giao cho các đối tượng khách hàng một khoản tiền với cam kết rằng khách hàng phải có nghĩa vụ hoàn trả số tiền gốc và lãi trong khoản thời gian xác định. Loại hình cho vay được xem như là khoản mục chiếm tỉ trọng lớn nhất trong hoạt động tín dụng. Thời hạn vay là khoảng thời gian được xác định từ lúc khách hàng hoàn thành tất cả các thủ tục và hồ sơ vay cho đến thời điểm hoàn trả toàn bộ dư nợ gốc và lãi vốn vay đã được thoả thuận đầy đủ trong hợp đồng tín dụng được ký kết giữa khách hàng và ngân hàng.
Trong đó, bao gồm các loại cho vay như sau: Hình thức cho vay từng lần (theo món): tại mỗi lần phát sinh nghĩa vụ cho vay và nhận nợ nay không thường xuyên, khách hàng và ngân hàng thực hiện hoạt động cho vay và ký kết các thỏa thuận liên quan. Phương thức này thường được áp dụng trong trường hợp khách hàng có nhu cầu vay với mục đích bù 1 đắp thiếu hụt tài chính tạm thời, hay đầu tư dự án. Kế hoạch trả nợ gốc, lãi có thể được xác định dựa trên cơ sở chu kỳ hoạt động kinh doanh thực tế và các nguồn thu của khách hàng. Hình thức cho vay theo hạn mức: khách hàng và ngân hàng cùng thỏa thuận mức cấp tín dụng tối đa trong khoảng thời gian cụ thể.
Phương thức này được xây dựng cho các đối tượng khách hàng có tình hình sản xuất kinh doanh tương đối ổn định, hiệu quả và thiết lập lịch sử quan hệ tín dụng uy tín và thường xuyên với ngân hàng. Trong thời hạn có hiệu lực của giới hạn tín dụng được cấp, khách hàng có thể vừa nhận nợ, vừa có thể trả nợ, sao cho có thể duy trì tổng dư nợ tại mọi thời điểm không vượt quá tổng hạn mức tín dụng được ngân hàng cấp, được quy định trong Hợp đồng cấp tín dụng. Hình thức cho vay hợp vốn (đồng tài trợ): Là hình thức có từ hai ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng trở lên cùng tham gia thực hiện việc cho vay đối với cùng một đối tượng khách hàng nhằm thực hiện một phương án hay dự án vay vốn. Mà trong đó, một ngân hàng/tổ chức tín dụng đứng ra đóng vai trò đầu mối, các ngân hàng/tổ chức tín dụng còn lại đóng vai trò là thành viên thực hiện nghĩa vụ đồng tài trợ.
Hình thức cho vay lưu vụ: đây là loại hình cho vay đối với các đối tượng cá nhân, hộ gia đình phục vụ mục đích trồng các loại cây, chăn nuôi có tính chất mùa vụ đáp ứng chu kỳ sản xuất liền kề trong năm hoặc các loại cây công nghiệp, cây lưu gốc được thu hoạch hàng năm, theo đó các khách hàng và các tổ chức tín dụng áp dụng hình thức này sẽ thực hiện thỏa thuận dư nợ gốc của chu kỳ trước được lưu lại, tiếp tục được dùng cho chu kỳ sản xuất tiếp theo nhưng không được phép vượt quá tổng thời gian của 02 (hai) chu kỳ sản xuất nối tiếp nhau. - Chiết khấu: là hình thức khách hàng được ngân hàng ứng trước một khoản tiền tương ứng với giá trị thương phiếu đã trừ đi phần thu nhập được quy định của ngân hàng để có thể sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn hay một giấy nợ. 1 - Bảo lãnh: Là hình thức ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính nào đó thay cho khách hàng khi khách hàng không có năng lực thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ phần nghĩa vụ đã cam kết. Đối với hình thức này, dù không phải xuất tiền ra, tuy nhiên, ngân hàng đã tận dụng uy tín của mình để đảm bảo cho khách hàng, từ đó thu lợi từ phí bảo lãnh phát hành.
- Cho thuê tài chính: Là hình thức cấp tín dụng trung hạn dựa trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính, hình thức này bao gồm các nội dung và điều kiện cơ bản như sau: Sau khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được phép nhận chuyển đổi quyền sở hữu tài sản đang thuê từ bên cho thuê hoặc tiếp tục thuê theo thỏa thuận của hai bên. Sau khi chấm dứt thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được ưu tiên trong việc mua lại tài sản đang thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản đang thuê so với thời điểm mua lại. Thời hạn cho thuê tài sản trong loại hình này ít nhất tương đương với 60% thời gian cần thiết được tính để khấu hao tài sản cho thuê đó. Tổng số tiền thuê của một tài sản sẽ được quy định trong hợp đồng cho thuê tài chính, tối thiểu phải bằng giá trị thị trường của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng.
- Bao thanh toán: được xem là hình thức cấp tín dụng cho bên mua hàng hoặc bên bán hàng thông qua quá trình mua lại có thực hiện bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải trả hoặc khoản phải thu phát sinh từ hoạt động mua, bán theo quy định trong hợp đồng cung cấp dịch vụ hoặc mua bán hàng hóa.