CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1. Tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại 1. Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị trường 1. Khái niệm, quyền và nghĩa vụ doanh nghiệp, Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014 của Quốc Hội quy định: Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.
* Quyền của doanh nghiệp - Tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm. - Tự chủ kinh doanh và lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh; chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh; chủ động điều chỉnh quy mô và ngành, nghề kinh doanh. - Lựa chọn hình thức, phương thức huy động, phân bổ và sử dụng vốn. - Chủ động tìm kiếm thị trường, khách hàng và ký kết hợp đồng.
- Kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu. - Tuyển dụng, thuê và sử dụng lao động theo yêu cầu kinh doanh. - Chủ động ứng dụng khoa học và công nghệ để nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh. 4 - Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của doanh nghiệp.
- Từ chối yêu cầu cung cấp nguồn lực không theo quy định của pháp luật - Khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo. - Tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật. - Quyền khác theo quy định của luật có liên quan. * Nghĩa vụ của doanh nghiệp - Đáp ứng đủ điều kiện kinh doanh khi kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo quy định của Luật đầu tư và bảo đảm duy trì đủ điều kiện đầu tư kinh doanh đó trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh.
- Tổ chức công tác kế toán, lập và nộp báo cáo tài chính trung thực, chính xác, đúng thời hạn theo quy định của pháp luật về kế toán, thống kê. - Kê khai thuế, nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật. - Bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động theo quy định của pháp luật về lao động; không được phân biệt đối xử và xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người lao động trong doanh nghiệp; không được sử dụng lao động cưỡng bức và lao động trẻ em; hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động tham gia đào tạo nâng cao trình độ, kỹ năng nghề; thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế và bảo hiểm khác cho người lao động theo quy định của pháp luật. - Bảo đảm và chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa, dịch vụ theo tiêu chuẩn do pháp luật quy định hoặc tiêu chuẩn đã đăng ký hoặc công bố.
- Thực hiện đầy đủ, kịp thời các nghĩa vụ về đăng ký doanh nghiệp, đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, công khai thông tin về thành lập và hoạt động, báo cáo và các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. 5 - Chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của thông tin kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và các báo cáo; trường hợp phát hiện thông tin đã kê khai hoặc báo cáo thiếu chính xác, chưa đầy đủ thì phải kịp thời sửa đổi, bổ sung các thông tin đó. - Tuân thủ quy định của pháp luật về quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bình đẳng giới, bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo vệ di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh. - Thực hiện nghĩa vụ về đạo đức kinh doanh để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng và người tiêu dùng.
Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ * Khái niệm Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các loại hình doanh nghiệp rất phong phú và đa dạng, do tùy theo từng cách tiếp cận khác nhau mà doanh nghiệp được chia thành các loại khác nhau. Nếu chỉ dựa vào quy mô hoạt động thì có thể chia doanh nghiệp thành 2 loại: doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp vừa và nhỏ. Doanh nghiệp vừa và nhỏ là loại hình doanh nghiệp phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới. Tuy nhiên không có một tiêu chuẩn chung nào cho việc phân định ranh giới quy mô doanh nghiệp, với mỗi nước khác nhau tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội và hoàn cảnh phát triển kinh tế cụ thể mà có các cách xác định quy mô doanh nghiệp trong từng giai đoạn cụ thể.
Thực tế trên thế giới, các nước có quan niệm rất khác nhau về doanh nghiệp vừa và nhỏ, nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự khác nhau này tiêu thức dùng để phân loại quy mô doanh nghiệp khác nhau. Tuy nhiên trong hàng loạt các tiêu thức phân loại đó có hai tiêu thức được sử dụng ở phần lớn các nước là quy mô vốn và số lượng lao động. Mặt khác việc lượng hoá các tiêu thức để phân loại quy mô doanh nghiệp còn tuỳ thuộc vào những yếu tố như: 6 - Trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước và những quy định cụ thể phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn. - Trong ngành nghề khác nhau thì chỉ tiêu độ lớn của các tiêu thức cũng khác nhau.
Việc quy định thế nào là doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp vừa và nhỏ là tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của từng nước và nó cũng thay đổi theo từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển kinh tế. Trong những năm gần đây tại Việt Nam, doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng khẳng định được vai trò cũng như vị thế quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước. Ngày 30/6/2009, Chính phủ ban hành nghị định số 56/2009/NĐ - CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ thay thế cho nghị định số 90/2001/NĐ - CP ban hành ngày 23/11/2001 quy định cụ thể lại các tiêu trí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ như sau: “Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, được chia làm ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của DN) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là chỉ tiêu ưu tiên)”. Cụ thể như sau: Bảng 1.1: Các tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ Doanh nghiệp Quy mô Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Tổng Số lao Tổng Số lao Khu vực Số lao động nguồn vốn động nguồn vốn động Trên 20 tỷ 1.
Nông, lâm 10 người Trên 200 10 người trở 20 tỷ đồng đồng đến nghiệp và đến 200 người đến xuống trở xuống 100 tỷ thủy sản người 300 người đồng 2. Công 10 người trở 20 tỷ đồng 10 người Trên 20 tỷ Trên 200 nghiệp và đến 200 đồng đến người đến 7 100 tỷ xây dựng xuống trở xuống người 300 người đồng 3. Thương 10 người Trên 10 tỷ Trên 50 10 người trở 10 tỷ đồng mại và đến 50 đồng đến người đến xuống trở xuống dịch vụ người 50 tỷ đồng 100 người ( Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP) Kết hợp với bảng phân loại, có thể thấy theo Nghị định, doanh nghiệp vừa và nhỏ được phân chia dựa theo tiêu chí: Quy mô về vốn, quy mô về số lao động, và khu vực, trong đó quy mô về vốn là được chú trọng nhất. * Đặc điểm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ - Xét về tính chất hoạt động kinh doanh Doanh nghiệp vừa và nhỏ thường tập trung ở nhiều khu vực chế biến và dịch vụ, tức là gần với người tiêu dùng hơn.
Trong đó cụ thể là: + Doanh nghiệp vừa và nhỏ là vệ tinh, chế biến bộ phận chi tiết cho các doanh nghiệp lớn với tư cách là tham gia vào các sản phẩm đầu tư. + Doanh nghiệp vừa và nhỏ thực hiện các dịch vụ đa dạng và phong phú trong nền kinh tế như các dịch vụ trong quá trình phân phối và thương mại hoá, dịch vụ sinh hoạt và giải trí, dịch vụ tư vấn và hỗ trợ. + Trực tiếp tham gia chế biến các sản phẩm cho người tiêu dùng cuối cùng với tư cách là nhà sản xuất toàn bộ. Chính nhờ tính chất hoạt động kinh doanh này mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ có lợi thế về tính linh hoạt.
Có thể nói tính linh hoạt là đặc tính trội của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhờ cấu trúc và quy mô nhỏ nên khả năng thay đổi mặt hàng, chuyển hướng kinh doanh thậm chí cả địa điểm kinh doanh được coi là mặt mạnh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. - Xét về nguồn lực vật chất Nhìn chung các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị hạn chế bởi nguồn vốn, tài 8 nguyên, đất đai và công nghệ. Sự hữu hạn về nguồn lực này là do tôn chỉ và nguồn gốc hình thành doanh nghiệp. Mặt khác còn do sự hạn hẹp trong các quan hệ với thị trường tài chính - tiền tệ, quá trình tự tích luỹ thường đóng vai trò quyết định của từng doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Nhận thức về vấn đề này các quốc gia đang tích cực hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ để họ có thể tham gia tốt hơn trong các tổ chức hỗ trợ để khắc phục sự hạn hẹp này. - Xét về năng lực quản lý điều hành Xuất phát từ nguồn gốc hình thành, tính chất, quy mô. các lãnh đạo doanh nghiệp vừa và nhỏ thường nắm bắt, bao quát và quán xuyến hầu hết các mặt của hoạt động kinh doanh. Thông thường họ được coi là nhà quản trị doanh nghiệp hơn là nhà quản lý chuyên sâu.
Chính vì vậy mà nhiều kỹ năng, nghiệp vụ quản lý trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn thấp hơn so với yêu cầu. - Xét về tính phụ thuộc hay bị động Do các đặc trưng kể trên nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị thụ động nhiều hơn ở thị trường. Cơ hội “dẫn dắt” thị trường của họ rất nhỏ. Thị trường doanh nghiệp vừa và nhỏ thường nhỏ bé và không ổn định, lại phải chia sẻ với nhiều với các doanh nghiệp khác.
Trong nhiều trường hợp thường bị động vì phụ thuộc vào hướng phát triển của các doanh nghiệp lớn và tồn tại như một bộ phận của doanh nghiệp lớn.