Luận án tiến sĩ hoàn thiện tổ chức kiểm soát nhằm tăng cường chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

Luận án tiến sĩ phân tích tổ chức kiểm soát nhằm nâng cao chất lượng thông tin kế toán tài chính cho công ty niêm yết tại Việt Nam.

Trường đại học

Đại học Kinh tế Quốc dân

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án

2014

216
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

1.1. Lý do chọn Đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Những đóng góp mới của Luận án

1.6. Kết cấu của Luận án

1.7. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TỔ CHỨC KIỂM SOÁT NHẰM TĂNG CƯỜNG CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TÀI CHÍNH CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

2.1. Tổ chức kiểm soát thông tin

2.2. Kiểm soát thông tin

2.3. Tổ chức kiểm soát thông tin

2.4. Chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết

2.5. Những tiêu chí phản ánh chất lượng thông tin kế toán tài chính

2.6. Yêu cầu về chất lượng thông tin kế toán tài chính đối với các công ty niêm yết

2.7. Vai trò của chất lượng thông tin kế toán tài chính của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán

2.8. Một số nguyên nhân chính các công ty niêm yết cung cấp thông tin kế toán tài chính kém chất lượng

2.9. Tổ chức kiểm soát chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết

2.10. Xác định nội dung tổ chức kiểm soát chất lượng thông tin kế toán tài chính

2.11. Lượng hoá chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết

2.12. Tổ chức kiểm soát nội bộ đối với chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết

2.13. Tổ chức kiểm soát nhà nước đối với chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết

2.14. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TỔ CHỨC KIỂM SOÁT ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TÀI CHÍNH CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

3.1. Nguồn dữ liệu nghiên cứu

3.2. Phương pháp nghiên cứu định tính

3.3. Nghiên cứu tài liệu

3.4. Nghiên cứu tình hình thực tiễn

3.5. Phỏng vấn chuyên gia

3.6. Tổng hợp, phân tích

3.7. Phương pháp nghiên cứu định lượng

3.8. Xây dựng giả thiết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu

3.9. Phương pháp khảo sát

3.10. Phân tích thống kê mô tả

3.11. Phương pháp hồi quy tương quan

3.12. Kết luận chương 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA TỔ CHỨC KIỂM SOÁT ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TÀI CHÍNH CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

4.1. Khái quát về Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và yêu cầu về chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết

4.2. Thực trạng chất lượng thông tin kế toán tài chính các công ty niêm yết phi tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam

4.3. Đánh giá khái quát chất lượng thông tin kế toán tài chính các công ty niêm yết phi tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam

4.4. Lượng hoá chất lượng thông tin kế toán tài chính các công ty niêm yết phi tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam

4.5. Thực trạng tổ chức kiểm soát chất lượng thông tin kế toán tài chính các công ty niêm yết phi tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam

4.6. Đánh giá khái quát tổ chức kiểm soát chất lượng thông tin kế toán tài chính các công ty niêm yết phi tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam

4.7. Tổ chức kiểm soát nội bộ đối với chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết phi tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam

4.8. Tổ chức kiểm soát nhà nước đối với chất lượng thông tin tài chính kế toán của các công ty niêm yết phi tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam

4.9. Kết luận chương 4

5. CHƯƠNG 5: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KIỂM SOÁT NHẰM TĂNG CƯỜNG CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TÀI CHÍNH CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

5.1. Phân tích kết quả nghiên cứu

5.2. Chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

5.3. Tổ chức kiểm soát nội bộ và mối liên hệ giữa tổ chức kiểm soát nội bộ đối với chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

5.4. Tổ chức kiểm soát nhà nước và mối liên hệ giữa tổ chức kiểm soát nhà nước đối với chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

5.5. Các giải pháp hoàn thiện tổ chức kiểm soát nhằm tăng cường chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

5.6. Sự cần thiết tăng cường chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam thông qua hoàn thiện tổ chức kiểm soát nội bộ và kiểm soát nhà nước

5.7. Quan điểm xây dựng các giải pháp hoàn thiện tổ chức kiểm soát nhằm tăng cường chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

5.8. Các giải pháp hoàn thiện tổ chức kiểm soát nhằm tăng cường chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

5.9. Điều kiện của giải pháp hoàn thiện tổ chức kiểm soát nhằm tăng cường chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

5.10. Kết luận chương 5

6. CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN

6.1. Về phương pháp nghiên cứu

6.2. Về kết quả khảo sát, phân tích

6.3. Về giải pháp đề xuất

6.4. Giới hạn nghiên cứu và những đề nghị

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

01. Phụ lục 01 – Bảng tổng quan lượng hoá theo thang đo các tiêu chuẩn thông tin KTTC

02. Phụ lục 02 - Phiếu khảo sát chuyên gia

03. Phụ lục 03 - Phiếu khảo sát

04. Phụ lục 04 - Tổng hợp ý kiến kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết phi tài chính trong giai đoạn 2008 – 2012 của Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

05. Phụ lục 05- Bảng thu thập lượng hoá chất lượng thông tin kế toán tài chính các công ty niêm yết trên SGDCK TPHCM

06. Phụ lục 06 - Danh sách các công ty niêm yết thuộc diện theo dõi đặc biệt (trích dẫn)

07. Phụ lục 07 - Danh sách các công ty niêm yết vi phạm công bố thông tin tài chính (trích dẫn)

08. Phụ lục 08 - Bảng thu thập lượng hoá các thành phần tổ chức KSNB ảnh hưởng tới chất lượng thông tin KTTC các công ty niêm yết trên SGDCK TPHCM

09. Phụ lục 09 - Bảng thu thập lượng hoá ảnh hưởng của tổ chức KSNN tới chất lượng thông tin KTTC các công ty niêm yết trên SGDCK TPHCM

Tóm tắt

I. Tổng quan về chất lượng thông tin kế toán tài chính tại công ty niêm yết

Chất lượng thông tin kế toán tài chính (KTTC) tại các công ty niêm yết (CTNY) đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự minh bạch và tin cậy cho các nhà đầu tư. Thông tin này không chỉ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư mà còn phản ánh tình hình tài chính của công ty. Theo nghiên cứu của Nguyễn Tố Tâm (2014), việc nâng cao chất lượng thông tin KTTC là cần thiết để bảo vệ quyền lợi của cổ đông và duy trì sự ổn định của thị trường chứng khoán (TTCK).

1.1. Định nghĩa và vai trò của chất lượng thông tin kế toán

Chất lượng thông tin KTTC được định nghĩa là mức độ chính xác, minh bạch và kịp thời của thông tin tài chính được công bố. Vai trò của nó không chỉ dừng lại ở việc cung cấp thông tin cho nhà đầu tư mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của CTNY.

1.2. Các tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin kế toán

Các tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin KTTC bao gồm tính chính xác, tính đầy đủ, tính kịp thời và tính minh bạch. Những tiêu chí này giúp các nhà đầu tư có cái nhìn tổng quan về tình hình tài chính của CTNY.

II. Thách thức trong việc nâng cao chất lượng thông tin kế toán tài chính

Mặc dù có nhiều nỗ lực để nâng cao chất lượng thông tin KTTC, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức. Các CTNY thường gặp khó khăn trong việc tuân thủ các chuẩn mực kế toán và quy định của nhà nước. Theo Agrawal (2005), sự gian lận trong báo cáo tài chính đã làm giảm niềm tin của nhà đầu tư vào thông tin tài chính.

2.1. Gian lận và thiếu minh bạch trong báo cáo tài chính

Gian lận trong báo cáo tài chính là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến chất lượng thông tin KTTC kém. Các CTNY có thể bị áp lực để báo cáo kết quả tài chính tốt hơn thực tế, dẫn đến việc cung cấp thông tin không chính xác.

2.2. Thiếu sự giám sát từ các cơ quan chức năng

Sự thiếu hụt trong việc giám sát của các cơ quan chức năng như Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) cũng góp phần làm giảm chất lượng thông tin KTTC. Việc thiếu các quy định chặt chẽ có thể dẫn đến việc các CTNY không tuân thủ các chuẩn mực kế toán.

III. Phương pháp nâng cao chất lượng thông tin kế toán tài chính

Để nâng cao chất lượng thông tin KTTC, các CTNY cần áp dụng các phương pháp kiểm soát nội bộ hiệu quả. Theo nghiên cứu của Nguyễn Tố Tâm (2014), việc tổ chức kiểm soát nội bộ (KSNB) có thể giúp giảm thiểu sai sót và gian lận trong báo cáo tài chính.

3.1. Tổ chức kiểm soát nội bộ hiệu quả

Tổ chức KSNB cần được thiết lập một cách chặt chẽ để đảm bảo rằng các quy trình báo cáo tài chính được thực hiện đúng cách. Điều này bao gồm việc phân công trách nhiệm rõ ràng và thực hiện các biện pháp kiểm tra định kỳ.

3.2. Đào tạo nhân viên về chuẩn mực kế toán

Đào tạo nhân viên về các chuẩn mực kế toán và quy định của nhà nước là rất quan trọng. Nhân viên cần hiểu rõ về trách nhiệm của mình trong việc cung cấp thông tin chính xác và minh bạch.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng các phương pháp kiểm soát nội bộ có thể cải thiện đáng kể chất lượng thông tin KTTC. Các CTNY đã thực hiện các biện pháp này thường có báo cáo tài chính minh bạch hơn và nhận được sự tin tưởng cao hơn từ nhà đầu tư.

4.1. Các công ty niêm yết thành công trong việc cải thiện chất lượng thông tin

Một số CTNY đã áp dụng thành công các biện pháp kiểm soát nội bộ và đã thấy sự cải thiện rõ rệt trong chất lượng thông tin KTTC. Điều này không chỉ giúp họ thu hút được nhiều nhà đầu tư hơn mà còn nâng cao uy tín trên thị trường.

4.2. Kết quả khảo sát về chất lượng thông tin kế toán

Kết quả khảo sát cho thấy rằng các CTNY có tổ chức KSNB tốt thường có chất lượng thông tin KTTC cao hơn. Điều này chứng tỏ rằng việc kiểm soát nội bộ là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng thông tin.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của chất lượng thông tin kế toán tài chính

Chất lượng thông tin KTTC tại các CTNY là một yếu tố quan trọng trong việc duy trì sự ổn định của TTCK. Việc nâng cao chất lượng thông tin không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

5.1. Tương lai của chất lượng thông tin kế toán tài chính

Trong tương lai, các CTNY cần tiếp tục cải thiện chất lượng thông tin KTTC thông qua việc áp dụng các công nghệ mới và cải tiến quy trình báo cáo tài chính. Điều này sẽ giúp họ duy trì sự cạnh tranh trên thị trường.

5.2. Vai trò của chính phủ trong việc nâng cao chất lượng thông tin

Chính phủ cần có các chính sách và quy định chặt chẽ hơn để đảm bảo rằng các CTNY tuân thủ các chuẩn mực kế toán. Sự giám sát của nhà nước sẽ góp phần nâng cao chất lượng thông tin KTTC và bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư.

18/06/2025
Luận án tiến sĩ hoàn thiện tổ chức kiểm soát nhằm tăng cường chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 Luận án đã xác định đối tượng nghiên cứu là ảnh hưởng của tổ chức KSNB và KSNN tới chất lượng thông tin KTTC của CTNY phi tài chính. Phạm vi nghiên cứu của Luận án là tổ chức KSNB của CTNY và KSNN với chất lượng thông tin KTTC của các CTNY phi tài chính trên TTCK Việt Nam tại SGDCK TPHCM. Luận án tập trung thu thập dữ liệu về thông tin KTTC của các CTNY phi tài chính tại SGDCK TPHCM và thời gian nghiên cứu từ năm 2008 đến năm 2012. Mục tiêu tổng quát của Luận án là tập trung vào nghiên cứu và giải quyết các mối quan hệ giữa tổ chức KSNB và KSNN với chất lượng thông tin KTTC của CTNY để đáp ứng tốt nhất nhu cầu thông tin ngày càng cao của các nhà đầu tư.

Từ đó, xác định câu hỏi nghiên cứu tổng quan: “Tổ chức kiểm soát toàn diện như thế nào để tăng cường chất lượng thông tin KTTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam?” Luận án đã xác định những đóng góp mới như: (1) Luận án đã sử dụng đã tổng hợp các phương pháp và mô hình đo lường các tiêu chuẩn của chất lượng thông tin KTTC của các CTNY phi tài chính trên TTCK Việt Nam tại SGDCK TPHCM; (2) Luận án đã xác định sự ảnh hưởng thuận chiều của kiểm soát trong nội bộ CTNY đối với chất lượng thông tin KTTC của CTNY; (3) Luận án đã chỉ ra tác động của tổ chức KSNN tới chất lượng thông tin KTTC của CTNY; (4) Luận án đã tổng hợp đánh giá thực trạng về chất lượng thông tin KTTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam hiện nay; (5) Luận án đã sử dụng phương pháp định tính, phương pháp định lượng được sử dụng nhằm kiểm định mối liên hệ giữa tổ chức KSNB và KSNN với chất lượng thông tin KTTC của các CTNY. Thông qua việc xây dựng mô hình kinh tế lượng cùng với việc sử dụng phần mềm phân tích Eviews để kiểm định mối quan hệ tương quan của các nhân tố của tổ chức KSNB và KSNN tới chất lượng thông tin KTTC của các CTNY phi tài chính trên TTCK Việt Nam. 9 2 CHƯƠNG 2- CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TỔ CHỨC KIỂM SOÁT NHẰM TĂNG CƯỜNG CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TÀI CHÍNH CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 2. Tổ chức kiểm soát thông tin 2.

Kiểm soát thông tin 2. Kiểm soát trong quản lý Quản lý luôn được nhìn nhận là hoạt động quan trọng trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội. Quản lý được tiếp cận theo nhiều khía cạnh khác nhau dẫn đến có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý. Theo định nghĩa này thì quản lý là một quá trình tích cực, nó chăm lo đến các nguồn lực với mục tiêu cuối cùng là sử dụng các nguồn lực đó theo cách hiệu quả nhất có thể.

Và quản lý được coi là một quá trình bao gồm các giai đoạn: Lập kế hoạch, tổ chức, cung cấp các nguồn lực, điều hành và kiểm soát. Quản lý là một quá trình do một hay nhiều người thực hiện, nhằm phối hợp các hoạt động của những người khác để đạt được kết quả mà một người hành động riêng rẽ không thể nào đạt được, theo James H (2001) [14, tr52].TS Nguyễn Quang Quynh (2003), quản lý là một quá trình định hướng và tổ chức thực hiện các hướng đã định trên cơ sở các nguồn lực xác định nhằm đạt hiệu quả cao nhất [25, tr11]. Quá trình này bao gồm nhiều chức năng và có thể chia thành nhiều giai đoạn từ khi đưa ra định hướng trên cơ sở dự báo các nguồn lực, mục tiêu cần có và có thể đạt tới, cho đến khi những định hướng này được triển khai thành các kế hoạch, các chương trình hành động và cuối cùng chúng được tổ chức thực hiện trong thực tế. Theo quan niệm này, quản lý bao gồm các giai đoạn: Định hướng, tổ chức thực hiện, cung cấp nguồn lực và điều hành, trong đó kiểm tra là một chức năng được thực hiện ở tất cả các giai đoạn trong quá trình quản lý.

10 Theo Nguyễn Ngọc Bích (2006) quản lý là việc tổ chức, điều khiển và theo dõi thực hiện như đường lối của chính quyền quy định. Như vậy, quản lý là sự tác động có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý nhằm đạt được các mục tiêu đã định [24, tr699]. Quá trình quản lý bắt đầu từ việc lập kế hoạch và xây dựng các mục tiêu có liên quan. Việc lập kế hoạch được trợ giúp bởi việc tổ chức và cung cấp những nguồn lực cần thiết – kể cả con người.

Sau đó các nhà quản lý có những hoạt động cụ thể nhằm đạt được những mục tiêu đã xây dựng. Thông thường những hoạt động đó tự nó chưa được coi là đầy đủ. Mọi việc hiếm khi được thực hiện đúng như dự định và sai lầm cũng có thể xảy ra khi những điều kiện môi trường thay đổi. Do đó, các nhà quản lý cần những biện pháp và hành động phụ thêm để có được những mục tiêu tốt hơn, ngăn ngừa những loại hành động không mong muốn.

Chức năng kiểm soát chính là đem lại những biện pháp, hành động và thủ tục cần thiết cho những nhà quản lý. Như vậy, kiểm soát tồn tại như một “khâu” độc lập của quá trình quản lý nhưng đồng thời lại là một bộ phận chủ yếu của quá trình đó. Kiểm soát là cần thiết trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người, trong tổ chức cũng như toàn bộ xã hội. Kiểm soát là một quy trình giám sát các hoạt động để đảm bảo rằng các hoạt động này được thực hiện theo kế hoạch và chỉnh sửa các sai lệch quan trọng.

Đích cuối cùng mà quá trình quản lý hướng tới chính là việc đạt được mục tiêu đã đặt ra trong khuôn khổ một tổ chức nhất định. Việc thực hiện các kế hoạch luôn phải đối mặt với những thay đổi của môi trường bên trong và bên ngoài tổ chức, nếu không có kiểm soát, các nhà quản lý sẽ không có thông tin để ra các quyết định thích hợp nhằm thích ứng và đối phó với sự thay đổi này, vì vậy, mục tiêu đặt ra khó có thể thực hiện được. Chính vì vậy, nghiên cứu và thực hiện kiểm soát luôn là nội dung gắn liền với quản lý. Theo Harold Koontz (1992) kiểm soát là việc đo lường và chỉnh sửa hoạt động nhằm đảm bảo rằng các mục tiêu của doanh nghiệp và các kế hoạch được lập ra nhằm thực 11 hiện các mục tiêu đó là đạt được [16, tr45].

Theo Nguyễn Ngọc Bích (2006), kiểm soát được hiểu là hoạt động xem xét có gì sai quy tắc, điều lệ, kỷ luật hay không và có - đặt hoặc giữ dưới sức mạnh và quyền hành của chủ thể thực hiện hoạt động kiểm soát [24,tr474].TS Nguyễn Quang Quynh (2003), kiểm soát được hiểu là tổng hợp các phương sách để nắm lấy và điều hành các đối tượng hoặc khách thể quản lý. Với ý nghĩa như vậy, kiểm soát được hiểu theo nhiều hướng khác nhau, chẳng hạn như cấp trên kiểm soát cấp dưới thông qua các biện pháp hoặc chính sách cụ thể; đơn vị này kiểm soát đơn vị khác thông qua việc ảnh hưởng hoặc chi phối đáng kể dựa trên quyền sở hữu và lợi ích tương ứng; nội bộ đơn vị kiểm soát lẫn nhau thông qua nội quy và quy chế,. Kiểm tra, kiểm soát là một chức năng của quản lý và quản lý được chia thành: quản lý vĩ mô (quản lý nhà nước) và quản lý vi mô (quản lý cấp đơn vị). Trong mọi trường hợp để đảm bảo hiệu quả hoạt động, các đơn vị cơ sở đều phải tiến hành kiểm tra, rà soát các hoạt động của mình [25, tr12-13].

Kiểm soát là quá trình nhà quản lý giám sát và điều tiết tính hiệu quả, hiệu lực của một tổ chức và các thành viên trong việc thực hiện các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức, theo Jones (2003) [88]. Thực chất kiểm soát là quá trình đo lường, đánh giá và tác động lên đối tượng kiểm soát nhằm đảm bảo mục tiêu, kế hoạch của tổ chức được thực hiện một cách có hiệu quả, theo PGS. Nguyễn Thị Phương Hoa (2009) [28, tr14]. Như vậy, kiểm soát được hiểu là kiểm tra, soát xét nhằm phát hiện những lệch lạc trong quá trình thực thi các quyết định quản lý so với các quy định, từ đó điều hành đối tượng và khách thể quản lý nhằm đạt được các mục tiêu đã định.

Trên cơ sở phân tích một số quan điểm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, Tác giả đưa ra khái niệm về kiểm soát như sau: “Kiểm soát là chức năng quan trọng trong quản lý, được thực hiện tại các cấp độ và giai đoạn khác nhau trong quản lý theo cách thức phù hợp với đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Kiểm soát bao gồm việc đo lường, đánh giá đối tượng kiểm soát nhằm đạt được hiệu quả trong quản lý”. Thông tin Thông tin là một khái niệm đã có từ lâu đời, là một khái niệm rất rộng. Tùy thuộc vào từng lĩnh vực nghiên cứu, mà đưa ra những định nghĩa khác nhau và giới hạn khái niệm đó lại phục vụ mục đích nghiên cứu.

Đối với các nhà quản lý kinh tế: Thông tin là những tín hiệu được thu nhận, được hiểu và được đánh giá là có ích cho việc ra quyết định; Đối với các nhà điều khiển học: Thông tin là một phạm trù phản ánh nội dung và hình thức vận động của các sự vật và hiện tượng. Theo quan điểm hệ thống thì thông tin là sự hạn chế tính đa dạng của mỗi hệ thống sự vật đối với môi trường, thông tin là tính trật tự của các đối tượng vật chất có những mối liên hệ biện chứng; Đối với các nhà triết học: Thông tin là một phạm trù triết học phản ánh sự vận động và tương tác của các hiện tượng, sự vật và quá trình tư duy. Thông tin là quá trình phản ánh và tiếp nhận phản ánh, biến phản ánh thành hiểu biết, thành tri thức; Đối với các nhà xã hội học: Thông tin quản lý trong hệ thống kinh tế xã hội là sự phản ánh nội dung và hình thức vận động, liên hệ giữa các đối tượng, yếu tố của hệ thống đó và giữa hệ thống đó với môi trường. Thông tin có những đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, thông tin gắn liền với quá trình điều khiển và cần được kiểm soát: Bản thân thông tin không có mục đích tự thân.

Nó chỉ tồn tại và có ý nghĩa trong một hệ thống điều khiển nào đó – nơi phát thông tin.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Nâng cao chất lượng thông tin kế toán tài chính tại các công ty niêm yết Việt Nam" tập trung vào việc cải thiện chất lượng thông tin kế toán tài chính, một yếu tố quan trọng giúp các công ty niêm yết tại Việt Nam nâng cao tính minh bạch và độ tin cậy trong báo cáo tài chính. Tài liệu nêu rõ các phương pháp và chiến lược để tối ưu hóa quy trình kế toán, từ đó giúp các nhà đầu tư và các bên liên quan có được cái nhìn chính xác hơn về tình hình tài chính của công ty.

Đọc tài liệu này, bạn sẽ nhận thấy những lợi ích thiết thực như việc tăng cường khả năng ra quyết định dựa trên thông tin tài chính chính xác, cũng như cải thiện mối quan hệ giữa công ty và các nhà đầu tư. Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các khía cạnh khác của kế toán, hãy tham khảo tài liệu Khóa luận kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh, nơi bạn có thể khám phá sâu hơn về quy trình kế toán trong lĩnh vực bán hàng và cách xác định kết quả kinh doanh. Những thông tin này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu rõ hơn về vai trò của kế toán trong việc quản lý tài chính doanh nghiệp.