chương 1 Luận án đã xác định đối tượng nghiên cứu là ảnh hưởng của tổ chức KSNB và KSNN tới chất lượng thông tin KTTC của CTNY phi tài chính. Phạm vi nghiên cứu của Luận án là tổ chức KSNB của CTNY và KSNN với chất lượng thông tin KTTC của các CTNY phi tài chính trên TTCK Việt Nam tại SGDCK TPHCM. Luận án tập trung thu thập dữ liệu về thông tin KTTC của các CTNY phi tài chính tại SGDCK TPHCM và thời gian nghiên cứu từ năm 2008 đến năm 2012. Mục tiêu tổng quát của Luận án là tập trung vào nghiên cứu và giải quyết các mối quan hệ giữa tổ chức KSNB và KSNN với chất lượng thông tin KTTC của CTNY để đáp ứng tốt nhất nhu cầu thông tin ngày càng cao của các nhà đầu tư.
Từ đó, xác định câu hỏi nghiên cứu tổng quan: “Tổ chức kiểm soát toàn diện như thế nào để tăng cường chất lượng thông tin KTTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam?” Luận án đã xác định những đóng góp mới như: (1) Luận án đã sử dụng đã tổng hợp các phương pháp và mô hình đo lường các tiêu chuẩn của chất lượng thông tin KTTC của các CTNY phi tài chính trên TTCK Việt Nam tại SGDCK TPHCM; (2) Luận án đã xác định sự ảnh hưởng thuận chiều của kiểm soát trong nội bộ CTNY đối với chất lượng thông tin KTTC của CTNY; (3) Luận án đã chỉ ra tác động của tổ chức KSNN tới chất lượng thông tin KTTC của CTNY; (4) Luận án đã tổng hợp đánh giá thực trạng về chất lượng thông tin KTTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam hiện nay; (5) Luận án đã sử dụng phương pháp định tính, phương pháp định lượng được sử dụng nhằm kiểm định mối liên hệ giữa tổ chức KSNB và KSNN với chất lượng thông tin KTTC của các CTNY. Thông qua việc xây dựng mô hình kinh tế lượng cùng với việc sử dụng phần mềm phân tích Eviews để kiểm định mối quan hệ tương quan của các nhân tố của tổ chức KSNB và KSNN tới chất lượng thông tin KTTC của các CTNY phi tài chính trên TTCK Việt Nam. 9 2 CHƯƠNG 2- CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TỔ CHỨC KIỂM SOÁT NHẰM TĂNG CƯỜNG CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TÀI CHÍNH CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 2. Tổ chức kiểm soát thông tin 2.
Kiểm soát thông tin 2. Kiểm soát trong quản lý Quản lý luôn được nhìn nhận là hoạt động quan trọng trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội. Quản lý được tiếp cận theo nhiều khía cạnh khác nhau dẫn đến có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý. Theo định nghĩa này thì quản lý là một quá trình tích cực, nó chăm lo đến các nguồn lực với mục tiêu cuối cùng là sử dụng các nguồn lực đó theo cách hiệu quả nhất có thể.
Và quản lý được coi là một quá trình bao gồm các giai đoạn: Lập kế hoạch, tổ chức, cung cấp các nguồn lực, điều hành và kiểm soát. Quản lý là một quá trình do một hay nhiều người thực hiện, nhằm phối hợp các hoạt động của những người khác để đạt được kết quả mà một người hành động riêng rẽ không thể nào đạt được, theo James H (2001) [14, tr52].TS Nguyễn Quang Quynh (2003), quản lý là một quá trình định hướng và tổ chức thực hiện các hướng đã định trên cơ sở các nguồn lực xác định nhằm đạt hiệu quả cao nhất [25, tr11]. Quá trình này bao gồm nhiều chức năng và có thể chia thành nhiều giai đoạn từ khi đưa ra định hướng trên cơ sở dự báo các nguồn lực, mục tiêu cần có và có thể đạt tới, cho đến khi những định hướng này được triển khai thành các kế hoạch, các chương trình hành động và cuối cùng chúng được tổ chức thực hiện trong thực tế. Theo quan niệm này, quản lý bao gồm các giai đoạn: Định hướng, tổ chức thực hiện, cung cấp nguồn lực và điều hành, trong đó kiểm tra là một chức năng được thực hiện ở tất cả các giai đoạn trong quá trình quản lý.
10 Theo Nguyễn Ngọc Bích (2006) quản lý là việc tổ chức, điều khiển và theo dõi thực hiện như đường lối của chính quyền quy định. Như vậy, quản lý là sự tác động có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý nhằm đạt được các mục tiêu đã định [24, tr699]. Quá trình quản lý bắt đầu từ việc lập kế hoạch và xây dựng các mục tiêu có liên quan. Việc lập kế hoạch được trợ giúp bởi việc tổ chức và cung cấp những nguồn lực cần thiết – kể cả con người.
Sau đó các nhà quản lý có những hoạt động cụ thể nhằm đạt được những mục tiêu đã xây dựng. Thông thường những hoạt động đó tự nó chưa được coi là đầy đủ. Mọi việc hiếm khi được thực hiện đúng như dự định và sai lầm cũng có thể xảy ra khi những điều kiện môi trường thay đổi. Do đó, các nhà quản lý cần những biện pháp và hành động phụ thêm để có được những mục tiêu tốt hơn, ngăn ngừa những loại hành động không mong muốn.
Chức năng kiểm soát chính là đem lại những biện pháp, hành động và thủ tục cần thiết cho những nhà quản lý. Như vậy, kiểm soát tồn tại như một “khâu” độc lập của quá trình quản lý nhưng đồng thời lại là một bộ phận chủ yếu của quá trình đó. Kiểm soát là cần thiết trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người, trong tổ chức cũng như toàn bộ xã hội. Kiểm soát là một quy trình giám sát các hoạt động để đảm bảo rằng các hoạt động này được thực hiện theo kế hoạch và chỉnh sửa các sai lệch quan trọng.
Đích cuối cùng mà quá trình quản lý hướng tới chính là việc đạt được mục tiêu đã đặt ra trong khuôn khổ một tổ chức nhất định. Việc thực hiện các kế hoạch luôn phải đối mặt với những thay đổi của môi trường bên trong và bên ngoài tổ chức, nếu không có kiểm soát, các nhà quản lý sẽ không có thông tin để ra các quyết định thích hợp nhằm thích ứng và đối phó với sự thay đổi này, vì vậy, mục tiêu đặt ra khó có thể thực hiện được. Chính vì vậy, nghiên cứu và thực hiện kiểm soát luôn là nội dung gắn liền với quản lý. Theo Harold Koontz (1992) kiểm soát là việc đo lường và chỉnh sửa hoạt động nhằm đảm bảo rằng các mục tiêu của doanh nghiệp và các kế hoạch được lập ra nhằm thực 11 hiện các mục tiêu đó là đạt được [16, tr45].
Theo Nguyễn Ngọc Bích (2006), kiểm soát được hiểu là hoạt động xem xét có gì sai quy tắc, điều lệ, kỷ luật hay không và có - đặt hoặc giữ dưới sức mạnh và quyền hành của chủ thể thực hiện hoạt động kiểm soát [24,tr474].TS Nguyễn Quang Quynh (2003), kiểm soát được hiểu là tổng hợp các phương sách để nắm lấy và điều hành các đối tượng hoặc khách thể quản lý. Với ý nghĩa như vậy, kiểm soát được hiểu theo nhiều hướng khác nhau, chẳng hạn như cấp trên kiểm soát cấp dưới thông qua các biện pháp hoặc chính sách cụ thể; đơn vị này kiểm soát đơn vị khác thông qua việc ảnh hưởng hoặc chi phối đáng kể dựa trên quyền sở hữu và lợi ích tương ứng; nội bộ đơn vị kiểm soát lẫn nhau thông qua nội quy và quy chế,. Kiểm tra, kiểm soát là một chức năng của quản lý và quản lý được chia thành: quản lý vĩ mô (quản lý nhà nước) và quản lý vi mô (quản lý cấp đơn vị). Trong mọi trường hợp để đảm bảo hiệu quả hoạt động, các đơn vị cơ sở đều phải tiến hành kiểm tra, rà soát các hoạt động của mình [25, tr12-13].
Kiểm soát là quá trình nhà quản lý giám sát và điều tiết tính hiệu quả, hiệu lực của một tổ chức và các thành viên trong việc thực hiện các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức, theo Jones (2003) [88]. Thực chất kiểm soát là quá trình đo lường, đánh giá và tác động lên đối tượng kiểm soát nhằm đảm bảo mục tiêu, kế hoạch của tổ chức được thực hiện một cách có hiệu quả, theo PGS. Nguyễn Thị Phương Hoa (2009) [28, tr14]. Như vậy, kiểm soát được hiểu là kiểm tra, soát xét nhằm phát hiện những lệch lạc trong quá trình thực thi các quyết định quản lý so với các quy định, từ đó điều hành đối tượng và khách thể quản lý nhằm đạt được các mục tiêu đã định.
Trên cơ sở phân tích một số quan điểm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, Tác giả đưa ra khái niệm về kiểm soát như sau: “Kiểm soát là chức năng quan trọng trong quản lý, được thực hiện tại các cấp độ và giai đoạn khác nhau trong quản lý theo cách thức phù hợp với đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Kiểm soát bao gồm việc đo lường, đánh giá đối tượng kiểm soát nhằm đạt được hiệu quả trong quản lý”. Thông tin Thông tin là một khái niệm đã có từ lâu đời, là một khái niệm rất rộng. Tùy thuộc vào từng lĩnh vực nghiên cứu, mà đưa ra những định nghĩa khác nhau và giới hạn khái niệm đó lại phục vụ mục đích nghiên cứu.
Đối với các nhà quản lý kinh tế: Thông tin là những tín hiệu được thu nhận, được hiểu và được đánh giá là có ích cho việc ra quyết định; Đối với các nhà điều khiển học: Thông tin là một phạm trù phản ánh nội dung và hình thức vận động của các sự vật và hiện tượng. Theo quan điểm hệ thống thì thông tin là sự hạn chế tính đa dạng của mỗi hệ thống sự vật đối với môi trường, thông tin là tính trật tự của các đối tượng vật chất có những mối liên hệ biện chứng; Đối với các nhà triết học: Thông tin là một phạm trù triết học phản ánh sự vận động và tương tác của các hiện tượng, sự vật và quá trình tư duy. Thông tin là quá trình phản ánh và tiếp nhận phản ánh, biến phản ánh thành hiểu biết, thành tri thức; Đối với các nhà xã hội học: Thông tin quản lý trong hệ thống kinh tế xã hội là sự phản ánh nội dung và hình thức vận động, liên hệ giữa các đối tượng, yếu tố của hệ thống đó và giữa hệ thống đó với môi trường. Thông tin có những đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, thông tin gắn liền với quá trình điều khiển và cần được kiểm soát: Bản thân thông tin không có mục đích tự thân.
Nó chỉ tồn tại và có ý nghĩa trong một hệ thống điều khiển nào đó – nơi phát thông tin.