CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Những khái niệm liên quan 1. Nhân lực “Nhân lực trong tổ chức/doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ những người làm việc trong tổ chức/doanh nghiệp được trả công, khai thác và sử dụng có hiệu quả nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức/doanh nghiệp” [8, Trg. Nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất của tổ chức/doanh nghiệp, nguồn lực của mỗi con người bao gồm có thể lực và trí lực.
Trong đó thể lực là sức khỏe của cơ thể con người như chiều cao, cân nặng, sức bền. Trí lực là năng lực trí tuệ của con người như học vấn, kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm nghề nghiệp và ý thức của con người. “Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động – con người có sức lao động [1, Trg.12] Trong nền kinh tế thị trường, việc sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực có vai trò rất quan trọng với doanh nghiệp.
Sử dụng nhân lực hiệu quả là chiến lược của mỗi doanh nghiệp. Việc sử dụng nhân lực hợp lý sẽ mang lại hiệu quả cao cho doanh nghiệp. “Nhân lực bao gồm tất cả các tiềm năng, nguồn lực của con người trong một tổ chức hay xã hội có thể huy động được trong quá trình sản xuất kinh doanh, bao gồm trí lực và thể lực” [10, Trg. Trong khái niệm này, trí lực chỉ sự suy nghĩ, hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức tài năng, cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách,.
của từng con người, thể lực chỉ sức khỏe của cơ thể, phụ thuộc sức vóc, tình trạng sức khỏe của từng con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế. Thể lực con người còn tùy thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính,. Khi nói đến nhân lực chính là nói đến con người, có rất nhiều quan điểm về nhân lực, nhưng trong số đó có một khái niệm phản ánh chung nhất chính là: “Nhân Luan van 9 lực là toàn bộ khả năng thể lực và trí lực của con người tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động ” Thống nhất với các quan điểm trên, “nhân lực chính là năng lực mà các cá nhân sử dụng vào quá trình hoạt động, bao gồm cả số lượng các cá nhân, cũng như tất cả các tiềm năng của họ, sẵn sàng hoạt động trong một tổ chức , xã hội. Hay nhân lực chính là tổng hợp các cá nhân cùng với kiến thức, kỹ năng, thái độ của họ để thành lập, duy trì, cho sự phát triển của tổ chức, xã hội ” Tiếp cận theo một khía cạnh khác thì nhân lực chính là sức lực của mỗi con người.
Hay nhân lực gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức. Họ sử dụng kiến thức, kĩ năng, thái độ hành vi của mình, để đóng góp vào sự phát triển doanh nghiệp. Nhân lực hiểu theo cách khác đó còn là các kỹ năng của lực lượng lao động với việc sử dụng các nguồn lực khác nhau để tạo ra sản phẩm theo yêu cầu của thị trường. Vậy nhân lực là lực lượng người lao động với kỹ năng nhất định để thực hiện công việc nào đó mà xã hội hay thị trường có nhu cầu.
Chất lượng nhân lực “Chất lượng nhân lực của doanh nghiệp : là mức độ đáp ứng nhu cầu nhân lực về mặt toàn bộ và về mặt đồng bộ (cơ cấu) các loại. Nhu cầu nhân lực cho hoạt động của doanh nghiệp là toàn bộ và cơ cấu các loại khả năng lao động cần thiết cho việc thực hiện, hoàn thành tốt nhất những nhiệm vụ của doanh nghiệp trong thời gian trước mắt và trong tương lai xác định. Để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển cần tiến hành đồng loạt các hoạt động một cách khoa học. Mọi hoạt động của doanh nghiệp đều do con người tiến hành.
Và khi người lao động được đảm bảo lợi ích hài hòa, có chế độ, chính sách đãi ngộ, cơ chế rõ ràng thì họ sẽ làm việc một cách hiệu quả, hết mình. Khi đó, doanh nghiệp sẽ cạnh tranh được với các đối thủ, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Trong bối cảnh hiện nay, để doanh nghiệp có thể đạt được hiệu quả kinh tế cao, cần Luan van 10 phải có đội ngũ nhân lực mạnh. Chất lượng nhân lực trong doanh nghiệp thể hiện ở sức mạnh hợp thành của các khả năng lao động.
Tuy nhiên trong doanh nghiệp chất lượng lao động được đánh giá qua mối quan hệ giữa chi phí, thời gian lao động với hiệu quả công việc. Thực tế, chất lượng của đội ngũ người lao động trong doanh nghiệp cao hay thấp phụ thuộc vào trình độ quản lý nguồn nhân lực trong doanh nghiệp đó. Như vậy, CLNL thể hiện một cách tổng quát việc đánh giá về năng lực làm việc, thái độ, cách giải quyết công việc. Do vậy, người lao động cần có đầy đủ những kiến thức chuyên môn cũng như những kĩ năng để giải quyết công việc, bên cạnh đó, thái độ của người lao động với công việc cũng rất quan trọng, thể hiện qua sự tập trung trong công việc, thái độ làm việc, khả năng chịu được áp lực trong công việc.
Nâng cao chất lượng nhân lực “ Nâng cao chất lượng nhân lực” hàm ý chỉ việc thực hiện một loạt một số hoạt động nào đó dẫn đến sự thay đổi về CLCL tăng lên so với CLNL hiện có. Đó là những biểu hiện tăng lên về kiến thức, kỹ năng, thái độ làm việc của cá nhân mỗi con người. Nâng cao chất lượng nhân lực một mặt tạo ra nhân lực có khả năng hơn trong việc đáp ứng nhu cầu sử dụng nhân lực chất lượng cao trong quá trình phát triển kinh tế xã hội đang trên đà hội nhập kinh tế quốc tế ; một mặt tạo ra nhân lực tự tin hơn trong quá trình làm việc tạo ra của cải vật chất cho bản thân, cho tổ chức, và tạo ra khả năng cạnh tranh bền vững nhất. Nâng cao chất lượng NL chính là sự tăng cường sức mạnh và kỹ năng hoạt động sáng tạo của năng lực thể chất và năng lực tinh thần của lực lượng lao động lên đến một trình độ nhất định để lực lượng này có thể hoàn thành được nhiệm vụ công việc nhằm đáp ứng nhu cầu của tổ chức, ngành và phát triển kinh tế - xã hội trong một giai đoạn phát triển nhất định của một quốc gia, một doanh nghiệp.
Nâng cao CLNL doanh nghiệp : là tổng thể các nội dung, cách thức, phương thức làm biến đổi các yếu tố cấu thành CLNL theo hướng phát triển một cách hợp Luan van 11 lý về quy mô và trình độ nhằm đáp ứng yêu cầu về mục tiêu phát triển của doanh nghiệp với hiệu quả ngày càng cao. Nâng cao CLNL là gia tăng giá trị con người, cả giá trị vật chất lẫn tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất mới cao hơn, đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế xã hội. Từ góc độ này, chứng tỏ rằng nâng cao CLNL chính là nâng cao năng lực làm việc, kỹ năng xử lý công việc, và thái độ trong công việc của nhân lực đang làm việc tại doanh nghiệp. Đó là : - Nâng cao kiến thức ( gồm nâng cao trình độ học vấn, trình độ chuyên môn,.) Đây chính là yếu tố quyết định căn bản đến nâng cao năng lực làm việc chính là nâng cao CLNL trong doanh nghiệp.
- Nâng cao kỹ năng (bao gồm việc nâng cao khả năng ứng xử và giải quyết công việc) - Nâng cao thái độ làm việc là việc nâng cao ý thức người lao động (trách nhiệm, say mê, tính kỷ luật,. Các tiêu chí đánh giá chất lượng và nâng cao chất lượng nhân lực trong doanh nghiệp 1. Trí lực Trí lực định nghĩa theo nguồn (vi.org), là: “Năng lực của trí tuệ, hiểu theo nghĩa rộng hơn là những kiến thức của mỗi người có thoực sự sâu rộng và khả năng vận dụng những kiến thức đó trong công việc và cuộc sống”. Khả năng lao động sáng tạo của con người sẽ phụ thuộc chủ yếu vào năng lực của trí tuệ.
Do đó, trí tuệ được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu của con người bởi tất cả những gì thúc đẩy con người. Phát huy tiềm năng trí tuệ trở thành yêu cầu quan trọng nhất của việc phát huy nguồn lực con người từ trình độ văn hoá, chuyên môn nghiệp vụ cho đến những kỹ năng. Trình độ văn hoá là cơ sở để phát triển trình độ chuyên môn kỹ thuật. Tri thức theo định nghĩa wikipedia thì “Tri thức hay kiến thức bao gồm những dữ kiện, thông tin, sự mô tả, hay kỹ năng có được nhờ trải nghiệm hay thông qua giáo dục.
Nó có thể ẩn tàng, chẳng hạn những kỹ năng hay năng lực thực hành, Luan van 12 hay tường minh, như những hiểu biết lý thuyết về một đối tượng; nó có thể ít nhiều mang tính hình thức hay có tính hệ thống”. Theo định nghĩa triết học của Mác thì: “Trí lực là năng lực nhận thức và cải tạo thế giới, nghĩa là loại năng lực ấy phải lấy sự vận dụng tri thức tiến hành khoa học và lao động làm nội dung. Trí lực ngoài việc chiếm giữ tri thức ra còn phải có một phương pháp tư duy khoa học và kĩ năng kĩ xảo điêu luyện, hay cụ thể hơn, trí lực được phân tích dưới hai góc độ sau:” Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, văn hóa “Trình độ văn hóa hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả trình độ phát triển vật chất và tinh thần của một xã hội, một tộc người, một nhóm người, một cá nhân, trong đó chứa đựng cả cách sống, lối sống.” Trình độ chuyên môn nghiệp vụ là những kỹ năng và kiến thức cần thiết để thực hiện công việc yêu cầu. Đây là tiêu chí rất quan trọng để đánh giá chất lượng nhân lực.
Khi người lao động có trình độ thì việc tiếp thu, ứng dụng những kiến thức, kỹ năng tiến bộ KHKT vào việc sản xuất kinh doanh sẽ rất nhanh nhạy, góp phần thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp và cả nền kinh tế. Tuy nhiên không phải tất cả lao động đều vận dụng được những kĩ năng này, dẫn đến hiệu quả công việc chưa cao.