CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Nhân lực Trong quá trình sản xuất, kinh doanh, bên cạnh các yếu tố đầu vào cơ bản là vốn và cơ sở vật chất kỹ thuật thì nhân lực là nguồn lực có vai trò hết sức quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Hiện nay có nhiều cách tiếp cận khác nhau về nhân lực trong doanh nghiệp: Theo Giáo trình Kinh tế Nguồn nhân lực, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội (2008) do tác giả Trần Xuân Cầu và tác giả Mai Quốc Chánh đồng chủ biên: “Nhân lực là sức lực của con người nằm trong mỗi con người giúp cho con người có thể hoạt động.
Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động (con người có sức lao động” [1, tr12]. Theo Giáo trình Quản trị Nhân lực căn bản, Đại học Thương mại (2016) do tác giả Mai Thanh Lan và tác giả Nguyễn Thị Minh Nhàn đồng chủ biên “Nhân lực trong tổ chức/doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ những người làm việc trong tổ chức/doanh nghiệp được trả công, khai thác và sử dụng có hiệu quả nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức/doanh nghiệp”. Từ khái niệm trên có thể thấy: Thứ nhất, nhân lực của DN bao gồm toàn bộ những con người làm việc cho DN đó, được DN quản lý, sử dụng và trả công. Thứ hai, nhân lực là một nguồn lực quan trọng nhất của DN cần được đầu tư, khai thác và sử dụng có hiệu quả.
Nhân lực chính là chủ thể thực hiện toàn bộ các hoạt động trong DN, đặc biệt là sáng tạo, vận hành, sử dụng có hiệu quả tất cả các nguồn lực khác. Thứ ba, nguồn lực của mỗi con người bao gồm có thể lực và trí lực. Thể lực là sức khỏe của cơ thể con người ví dụ như chiều cao, cân nặng, sức bền….Trí lực là năng lực trí tuệ của con người ví dụ như học vấn, kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm nghề nghiệp và ý thức của con người. Thứ tư, khi xem xét nguồn lực này, DN quan tâm đến các khía cạnh về số lượng/quy mô của nhân lực là bao nhiêu, chất lượng/năng lực như thế nào với cơ cấu 2 ra sao.
Thứ năm, nhân lực của DN chính là vốn nhân lực. Đó là tập hợp năng lực (kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng) mà mỗi con người tích lũy được. Muốn có vốn nhân lực, gia đình (trong đó có bản thân mỗi con người) và xã hội phải đầu tư, vốn đó sẽ giúp con người tăng thu nhập và góp phần làm giàu cho xã hội, còn với DN cần đầu tư cho đào tạo để nâng cao chất lượng nhân lực cho DN mình, từ đó tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động. Tuy nhiên, khái niệm theo cách tiếp cận của tác giả Mai Thanh Lan và tác giả Nguyễn Thị Minh Nhàn là phổ biến hơn cả.
Bởi khái niệm này trình bày rõ ràng, dễ hiểu. Khái niệm cũng phân định rõ ràng 03 khía cạnh của nhân lực là kiến thức, kỹ năng, phẩm chất. Chính vì vậy, đề tài đi theo hướng tiếp cận này. Trong phạm vi luận văn, khái niệm nhân lực được hiểu như sau: “Nhân lực của DN là toàn bộ khả năng về thể lực, trí lực và tâm lực của con người ở dạng thực tế và tiềm năng tham gia lao động phát triển DN và được DN trả lương”.
Chất lượng nhân lực trong doanh nghiệp Theo giáo trình Nguồn nhân lực, Đại học Lao động Xã hội (2011) thì: “Chất lượng NNL là khái niệm tổng hợp về những người thuộc NNL được thể hiện ở các mặt sau đây: sức khỏe của người lao động, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kĩ thuật, năng lực thực tế về tri thức, kĩ năng nghề nghiệp, tính năng động xã hội (gồm khả năng sáng tạo, sự linh hoạt, nhanh nhẹn trong công việc,.), phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ đối với công việc, môi trường làm việc, hiệu quả hoạt động lao động của NNL và thu nhập mức sống và mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân (gồm nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của người lao động” [3, Tr9]. Chất lượng nhân lực của doanh nghiệp thể hiện ở sức mạnh hợp thành của các khả năng lao động. Tuy nhiên, trong doanh nghiệp chất lượng lao động được đánh giá thông qua mối quan hệ giữa chi phí lao động với hiệu quả của lao động. Thực tế luôn cho thấy rằng, chất lượng của cả đội ngũ người lao động đến đâu hoạt động của doanh nghiệp trúng đến đó, trôi chảy đến đó; chất lượng, chi phí đầu vào khác cao thấp đến đó; chất lượng của các sản phẩm trung gian, năng lực cạnh tranh của sản phấm đầu ra đến đó.
Chất lượng của đội ngũ người lao động trong doanh nghiệp cao hay thấp chủ yếu phụ thuộc vào trình độ quản lý nguồn nhân lực trong doanh nghiệp đó. Theo cách tiếp cận của luận văn, chất lượng nhân lực trong doanh nghiệp chính 3 là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của NLĐ trên các phương diện: thể lực, trí lực, tâm lực so với yêu cầu công việc cụ thê nhằm đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp. Nâng cao chất lượng nhân lực trong doanh nghiệp Thuật ngữ “Nâng cao chất lượng nhân lực” hàm ý chỉ việc thực hiện một loạt một số hoạt động nào đó dẫn đến sự thay đổi về chất lượng nhân lực tăng lên so với chất lượng nhân lực hiện có. Đó là những biểu hiện tăng lên về kiến thức, kỹ năng, thái độ làm việc của cá nhân mỗi con người.
Nâng cao chất lượng nhân lực một mặt tạo ra nhân lực có khả năng hơn trong việc đáp ứng nhu cầu sử dụng nhân lực chất lượng cao trong quá trình phát triển kinh tế xã hội đang trên đà hội nhập kinh tế quốc tế; một mặt tạo ra nhân lực tự tin hơn trong quá trình làm việc tạo ra của cải vật chất cho bản thân, cho tổ chức, và tạo ra khả năng cạnh tranh bền vững nhất. Nâng cao chất lượng nhân lực doanh nghiệp: là tổng thể các nội dung, cách thức, phương thức làm biến đổi các yếu tố cấu thành chất lượng nhân lực theo hướng phát triển một các hợp lý về quy mô và trình độ nhằm đáp ứng yêu cầu về mục tiêu phát triển của DN với hiệu quả ngày càng cao. Nâng cao chất lượng nhân lực là gia tăng giá trị con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất mới cao hơn đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế xã hội. Từ góc độ này, tác giả cho rằng nâng cao chất lượng nhân lực chính là nâng cao năng lực làm việc, kỹ năng xử lý công việc, và thái độ trong công việc của nhân lực đang làm việc tại doanh nghiệp.
Trong phạm vi luận văn, khái niệm nâng cao chất lượng nhân lực được hiểu như sau: “Nâng cao chất lượng nhân lực trong doanh nghiệp chính là nâng cao mức độ đáp ứng công việc của người lao động trên các phương diện: thể lực, trí lực và tâm lực so với yêu cầu cụ thể nhằm đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp”. Các tiêu chí đánh giá chất lượng nhân lực trong doanh nghiệp Trong quá trình sử dụng nhân lực, DN thường xây dựng các tiêu chí đánh giá khác nhau nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình quản lý, giúp DN nhìn rõ về tỷ lệ lao động nam/nữ, mức độ già/trẻ của đội ngũ nhân lực, mức độ phân bố lao động ở các vùng địa lý khác nhau và các ngành sản xuất kinh doanh khác nhau,… 4 Trong luận văn này, tác giả xin đề cập đến 03 tiêu chí đánh giá được đưa ra làm cơ sở giúp các DN có sự điều chỉnh phù hợp về nhân lực cũng như hoạch định tốt hơn các chính sách phù hợp với đặc điểm của từng đối tượng nhân lực, cụ thể như sau: 1. Tiêu chí đánh giá về thể lực: Nói đến thể lực là nói đến trạng thái sức khoẻ của NLĐ, theo Doanh nghiệp Y tế Thế giới WHO thì: “Sức khỏe là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không phải chỉ là không có bệnh tật hay tàn phế” [22,Tr1]. Theo đó: Sức khỏe thể chất: Được thể hiện một cách tổng quát là sự sảng khoái và thoải mái về thể chất.
Càng sảng khoái, thoải mái càng chứng tỏ bản thân là người khoẻ mạnh. Cơ sở của sự sảng khoái, thoải mái về thể chất là: sức lực, sự nhanh nhẹn, sự dẻo dai, khả năng đề kháng được với các yếu tố gây bệnh, khả năng chịu đựng các điều kiện khắc nghiệt của môi trường. Sức khỏe tinh thần: Là hiện thân của sự thỏa mãn về mặt giao tiếp xã hội, tình cảm và tinh thần. Nó được thể hiện ở sự sảng khoái, ở cảm giác dễ chịu, cảm xúc vui tươi, thanh thản, ở những ý nghĩ lạc quan, yêu đời, ở những quan niệm sống tích cực, dũng cảm, chủ động; ở khả năng chống lại những quan niệm bi quan và lối sống không lành mạnh.
Sức khoẻ tinh thần là sự biểu hiện của nếp sống lành mạnh, văn minh và có đạo đức. Cơ sở của sức mạnh tinh thần là sự thăng bằng và hài hoà trong hoạt động tinh thần giữa lý trí và tình cảm. Sức khỏe xã hội thể hiện ở sự thoải mái trong các mối quan hệ chằng chịt, phức tạp giữa các thành viên: gia đình, nhà trường, bạn bè, xóm làng, nơi công cộng, cơ quan. Sức khoẻ xã hội còn thể hiện ở sự được tán thành và chấp nhận của xã hội.
Mỗi người trong tổ chức càng hoà nhập với mọi người, được mọi người đồng cảm, yêu mến càng có sức khỏe xã hội tốt và ngược lại. Cơ sở của sức khỏe xã hội là sự thăng bằng giữa hoạt động và quyền lợi cá nhân với hoạt động và quyền lợi của xã hội, của những thành viên khác; là sự hoà nhập giữa cá nhân, gia đình và xã hội. Đối với chỉ tiêu sức khỏe, thường phải khảo nghiệm thực tế như cân đo, thực hiện các kiểm tra về sức khỏe,… từ đó kết quả đượcđánh giá dựa trên những tiêu chuẩn nhất định.