phần mở đầu, phần kết luận, mục lục, danh mục các kí hiệu viết tắt, hình vẽ, bảng biểu và danh mục các tài liệu tham khảo thì kết cấu của đề án gồm 03 phần: PHẦN 1: CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN PHẦN 2: NỘI DUNG ĐỀ ÁN PHẦN 3: ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ 6 PHẦN 1: CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Nhân lực Nhân lực đóng vai trò then chốt trong sự phát triển của mỗi tổ chức, doanh nghiệp và toàn xã hội. Để đảm bảo hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh, các tổ chức cần chú trọng vào việc phát triển và sử dụng nguồn nhân lực một cách bền vững.
Nguồn nhân lực không chỉ đơn thuần là số lượng lao động mà còn bao gồm chất lượng về thể lực, trí lực và kỹ năng. Vì vậy, việc nghiên cứu khái niệm nhân lực và cách quản lý, khai thác hiệu quả nguồn lực này là một yếu tố quan trọng trong chiến lược phát triển tổ chức/doanh nghiệp. Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO): “Nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động”. Theo Liên Hợp Quốc: “Nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”.
Theo tác giả Nguyễn Tiệp (2005): “Nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động”. Khái niệm này chỉ nhân lực với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Theo tác giả Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (đồng chủ biên năm 2008) trong Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của Đại học Kinh tế Quốc dân, tiếp cận theo góc độ kinh tế NNL cho rằng: “Nhân lực là sức lực của con người nằm trong mỗi con người giúp cho con người có thể hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động (con người có sức lao động)”.
Theo tác giả Mai Thanh Lan và Nguyễn Thị Minh Nhàn (2016) thì nhân lực được tiếp cận ở hai phạm vi: nhân lực của tổ chức và nhân lực là cá nhân: “Trong phạm vi của tổ chức, nhân lực là một bộ phận của nguồn nhân lực xã hội. Nhân lực của tổ chức là nguồn lực của toàn bộ cán bộ, nhân viên trong tổ chức đó đặt trong mối quan hệ phối kết hợp các nguồn lực riêng của mỗi người, có sự bổ trợ những khác biệt trong nguồn lực của mỗi cá nhân thành nguồn lực của tổ chức”. Theo khía cạnh cá nhân con người: “Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực. Thể lực chỉ sức khỏe của thân 7 thể, nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của từng con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế.
Thể lực của con người còn tùy thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính. Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách. của từng con người”. Từ những khái niệm ở trên trên, theo tiếp cận của tác giả trong đề tài nghiên cứu: “Nhân lực của tổ chức/doanh nghiệp bao gồm toàn bộ những con người làm việc cho tổ chức doanh nghiệp đó, được tổ chức/doanh nghiệp quản lý, sử dụng và trả công.
Là nguồn lực quan trọng nhất của tổ chức/doanh nghiệp cần được đầu tư, khai thác và sử dụng có hiệu quả bao gồm cả thể lực và trí lực”. Khi xem xét nguồn lực này, tổ chức/doanh nghiệp quan tâm đến các khía cạnh về số lượng, quy mô của nhân lực là bao nhiêu, chất lượng, năng lực như thế nào với cơ cấu ra sao và quan điểm của quản trị nhân lực hiện đại coi nhân lực của tổ chức doanh nghiệp chính là vốn nhân lực. Chất lƣợng nhân lực Nhân lực không chỉ được xem xét dưới góc độ số lượng mà còn ở khía cạnh chất lượng. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về chất lượng nhân lực, cụ thể: Theo Tạ Ngọc Hải (2009).
Viện Khoa học tổ chức Nhà nước: “Chất lượng nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như trí tuệ, sự hiểu biết, trình độ, đạo đức, kỹ năng, sức khoẻ, thẩm mỹ. của người lao động. Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng để xem xét và đánh giá chất lượng nguồn nhân lực”. Theo tác giả Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (đồng chủ biên) trong Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của Đại học Kinh tế Quốc dân, năm 2008: “Chất lượng nhân lực là trạng thái nhất định của nhân lực, là tố chất, bản chất bên trong của nhân lực, nó luôn có sự vận động và phản ánh trình độ phát triển kinh tế xã hội cũng như mức sống, dân trí của dân cư.
Chất lượng nhân lực được thể hiện ở các mặt sau: Sức khỏe; Trình độ văn hóa; Trình độ chuyên môn; Năng lực thực tế về kỹ năng nghề nghiệp: Tính năng động xã hội (khả năng sáng tạo công việc, thích ứng, linh hoạt, nhanh nhạy với công việc); Phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ với công việc và môi trường làm việc: Hiệu quả hoạt động của nguồn nhân lực; Thu nhập, mức sống và mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân của người lao động”. Còn theo Bùi Văn Nhơn (2010): “Chất lượng nguồn nhân lực gồm tri tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý xã hội trong đó: Thể lực của nguồn nhân lực là sức khỏe cơ 8 thể và sức khỏe tinh thần; Trí lực của nguồn nhân lực là trình độ văn hóa, chuyên môn và kỹ năng thực hành của người lao động; Phẩm chất tâm lý xã hội là kỷ luật, tự giác, có tinh thần hợp tác và tác phong công nghiệp, có tinh thần trách nhiệm cao.” Trong đề án này, chất lượng nhân lực được hiểu như sau: “Chất lượng nhân lực là toàn bộ năng lực của nguồn lao động trong tổ chức được biểu hiện thông qua ba tiêu chí: Kiến thức, kỹ năng, thái độ”. Tất cả các mặt này có quan hệ chặt chẽ với nhau để cấu thành nên chất lượng nguồn nhân lực. Đối với doanh nghiệp, chất lượng nhân lực của doanh nghiệp là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động được thể hiện qua các yếu tố như: thể lực, kiến thức, kỹ năng, phẩm chất nghề nghiệp của người lao động trong doanh nghiệp.
Công tác quản lý nhân lực đó là hoạt động tổ chức, điều hành, sắp xếp nhân lực làm sao để phát huy tối đa khả năng lao động của con người. Trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu về nhân lực và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực là yêu cầu hết sức quan trọng đối với tất cả mọi tổ chức. Bởi lẽ sử dụng nguồn nhân lực hiệu quả là một chiến lược lâu dài đối với các tổ chức, điều đó không chỉ làm cho bộ máy tổ chức hoạt động tốt mà còn là một biện pháp nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất, tăng cường sức cạnh tranh của tổ chức. Các tiêu chí đánh giá chất lƣợng nhân lực trong doanh nghiệp 1.
Về cơ cấu nhân lực của doanh nghiệp Cơ cấu nhân lực trong các doanh nghiệp thường được xét trên các khía cạnh cơ cấu tuổi, cơ cấu giới tính, cơ cấu lao động trực tiếp và gián tiếp. Một là, cơ cấu tuổi Phản ánh tỷ lệ nhân sự theo nhóm tuổi, ảnh hưởng đến chất lượng nhân lực. Doanh nghiệp cần có sự cân bằng giữa lao động trẻ và trung niên, tùy thuộc vào yêu cầu công việc. Ví dụ, lao động trẻ thường phù hợp với các vị trí năng động như nghiên cứu thị trường.
Hai là, cơ cấu giới tính Tùy thuộc vào tính chất công việc mà yêu cầu tỷ lệ giới tính khác nhau. Công việc xúc tiến thường cần lao động nữ, trong khi công việc nặng nhọc đòi hỏi lao động nam. Ba là, cơ cấu thâm niên trong nghề hoặc trong công việc Thâm niên trong nghề thể hiện sự kinh nghiệm và kỹ năng của nhân viên, giúp 9 doanh nghiệp đạt hiệu quả cao hơn và tiết giảm chi phí đào tạo. Nhân sự có thâm niên là một lợi thế trong tuyển dụng và hoạt động của doanh nghiệp.
Bốn là, cơ cấu lao động trực tiếp và gián tiếp Cơ cấu lao động trực tiếp và gián tiếp phản ánh sự phân chia giữa những nhân viên tham gia trực tiếp vào sản xuất, dịch vụ và những nhân viên hỗ trợ thông qua các hoạt động quản lý, hành chính. Lao động trực tiếp thường chịu trách nhiệm chính trong việc tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ, còn lao động gián tiếp đảm bảo các hoạt động vận hành, quản lý hiệu quả. Tỷ lệ hợp lý giữa hai nhóm này tùy thuộc vào đặc thù ngành nghề và chiến lược phát triển của doanh nghiệp, giúp tối ưu hóa quy trình sản xuất, nâng cao năng suất và chất lượng công việc. Về thể lực Thể lực của nguồn nhân lực được hiểu là sức khỏe toàn diện, gồm cả thể chất và tinh thần.
Sức khỏe là điều kiện cần, còn tinh thần minh mẫn là điều kiện đủ để nhân lực làm việc hiệu quả và phát triển. Người có tinh thần tiêu cực sẽ không thể cống hiến tối đa cho công việc. Do đó, nâng cao thể lực là yếu tố quan trọng trong việc đánh giá chất lượng nhân lực. Sức khỏe nhân lực thường được đánh giá qua kiểm tra như cân đo, chỉ số BMI, huyết áp, xét nghiệm máu, nước tiểu và chẩn đoán hình ảnh.
Theo Thông tư 13/2007/TT-BYT và Quyết định 1613/QĐ-BYT, sức khỏe được phân thành 5 loại: rất khỏe, khỏe, trung bình, yếu, và rất yếu. Sức khỏe tốt giúp tăng năng suất lao động, khả năng tiếp thu và sáng tạo trong công việc, góp phần vào sự phát triển của doanh nghiệp và xã hội. Về trí lực Trí lực của nguồn nhân lực bao gồm: trình độ học vấn, kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và kinh nghiệm làm việc. Thể lực là điều kiện cần để người lao động làm việc, trong khi trí lực là điều kiện đủ để họ phát triển và cống hiến lâu dài cho doanh nghiệp.