phần mở đầu, nội dung của đề tài kết cấu gồm 3 chương, 6 tiết, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Luan van 15 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NHÂN LỰC NÔNG NGHIỆP TỈNH BẮC NINH 1. Nhân lực và chất lƣợng nhân lực nông nghiệp 1. Nhân lực và nhân lực nông nghiệp * Nhân lực Đề cập đến nhân lực chính là đề cập đến nguồn lực con người, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định: con người hiện thực là một chỉnh thể sinh học - xã hội, nhưng yếu tố xã hội mới là bản chất đích thực của con người.
Kết hợp hai mặt sinh học và xã hội, con người có một năng lực tiềm ẩn (tiềm năng), khi được sử dụng và gặp môi trường thuận lợi thì tiềm năng ấy được phát huy, lúc đó con người trở thành động lực cho sự phát triển KT-XH. Khẳng định điều này, Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người” [26, tr. Lao động mang ý nghĩa nhân bản sâu xa, bởi trong lao động con người đã làm biến đổi tự nhiên, biến đổi cả bản thân mình và đã làm nên lịch sử của cả xã hội loài người. Chính các hoạt động nhận thức thực tiễn đã làm hoàn thiện nhân cách, trình độ, trí tuệ và thể lực của con người, giúp con người thực hiện các chức năng xã hội của mình.
Vì vậy, nâng cao chất lượng nhân lực (CLNL) cần phải quan tâm tới cả mặt sinh học (sức khỏe, dinh dưỡng, vệ sinh, môi trường…) và mặt xã hội (kiến thức, kỹ năng, đạo đức, lối sống…) cho con người. Đây là điều kiện để tạo ra những khả năng của nhân lực, đồng thời cũng là cơ sở để có giải pháp phát huy vai trò của nhân lực trong lao động. Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin đã chứng minh rằng: con người là sản phẩm của hoàn cảnh, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra hoàn cảnh. Nhưng hoạt động sáng tạo ra hoàn cảnh của con người lại chỉ được thực hiện trong mối quan hệ với cộng đồng - xã hội và quan hệ xã hội là điều kiện để Luan van 16 con người thể hiện bản tính phong phú và tư duy sáng tạo của mình.
Hay sự thay thế của các hình thái KT-XH trong lịch sử là do sự phát triển của lực lượng sản xuất (LLSX). Mà trong LLSX, con người là yếu tố cách mạng và năng động nhất. Chính con người đã làm nên những biến đổi về tính chất và trình độ của LLSX để rồi đưa xã hội tiến lên. Trong tiến trình các cuộc cải biến xã hội, con người luôn là mục tiêu, đồng thời là động lực của tiến trình đó.
Thực tế đã chứng minh, ở đâu các lực lượng cách mạng có ý thức đầy đủ về vai trò của con người, có giải pháp hiện thực hóa vai trò của con người thì sự nghiệp cách mạng ở đó sẽ giành thắng lợi. Với ý nghĩa đó, xét trong tiến trình nâng cao CLNL thì con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực. Kế thừa và phát triển những luận điểm trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Con người là chủ thể cụ thể của nguồn nhân lực, vừa tồn tại với tư cách cá nhân, với những nhu cầu cụ thể của nhân lực, vừa tồn tại với tư cách là những thành viên của gia đình, của cộng đồng dân tộc. Bằng năng lực và trách nhiệm đối với xã hội, con người có vai trò to lớn, quyết định tới thành công của cách mạng, tiến bộ của xã hội, tiền đồ của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.
Hay con người là mục tiêu, là động lực của toàn bộ sự phát triển KT-XH. Trong Di chúc, Người căn dặn: Vô luận việc gì đều do con người làm ra. Thực tiễn trong gần 30 năm đất nước đổi mới và thực hiện công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn càng cho chúng ta thấy rõ hơn về tầm quan trọng của nhân lực. Trong các lý thuyết kinh tế và một số công trình nghiên cứu gần đây thì quan niệm về nhân lực được đề cập đến những góc độ sau: Theo từ điển thuật ngữ trong lĩnh vực lao động của Liên xô (cũ) thì: Nhân lực là toàn bộ những lao động dưới dạng tích cực (đang tham gia lao động) và tiềm tàng (những người có khả năng lao động nhưng chưa tham gia lao động).
Theo từ điển thuật ngữ trong lĩnh vực lao động của Pháp thì nhân lực có phạm vi hẹp hơn. Nó không bao gồm những người có khả năng lao động nhưng không có nhu cầu làm việc. Luan van 17 Trong báo cáo của Liên Hợp Quốc đánh giá về những tác động của toàn cầu hóa đối với nhân lực đã đưa ra định nghĩa: Nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực thực có thực tế cùng với những năng lực tồn tại dưới dạng tiềm năng của con người. Theo giáo trình kinh tế nguồn nhân lực của Trường Đại học Kinh tế, thì nhân lực là sức con người nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động; sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức nào đó con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động - con người có sức lao động.
Theo thuyết lao động xã hội thì nhân lực được hiểu là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động. Với cách hiểu này, nhân lực là một bộ phận của dân cư, bao gồm những người trong độ tuổi lao động theo quy định của Bộ Luật lao động Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (nam từ đủ 15 đến hết 60 tuổi, nữ từ đủ 15 đến 55 tuổi), có khả năng lao động. Đây là lực lượng lao động tiềm năng, lực lượng quan trọng nhất có thể huy động vào các hoạt động của nền KT-XH. Ở nước ta khái niệm nhân lực được sử dụng khá rộng rãi từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới.
Theo Giáo sư, Viện sĩ Phạm Minh Hạc: nhân lực được thể hiện qua số lượng dân cư, chất lượng con người (bao gồm thể lực, trí lực, năng lực và phẩm chất…). Như vậy, nhân lực không chỉ bao hàm về CLNL hiện tại mà còn bao hàm cả nguồn cung cấp nhân lực cho tương lai. Về cơ bản, quan niệm của các nước, các tổ chức quốc tế và ở nước ta về nhân lực là tương đối thống nhất với nhau về bản chất, nội dung và các giới hạn xác định nhân lực, như vậy nhân lực bao gồm 2 bộ phận: Thứ nhất, là bộ phận nhân lực có tham gia vào hoạt động kinh tế (còn gọi là lực lượng lao động), là những người có công ăn việc làm, đang hoạt động trong các ngành kinh tế và văn hóa của xã hội và những người chưa có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm. Luan van 18 Thứ hai, là bộ phận nhân lực không hoạt động kinh tế (lực lương dự trữ), bao gồm những người trong độ tuổi lao động nhưng với những lý do khác nhau họ không tham gia vào các hoạt động KT-XH, như những người đang làm nội trợ gia đình, người đang đi học, người nghỉ hưu trước tuổi quy định và những người có khả năng lao động nhưng không tích cực tìm việc làm.
Từ những phân tích trên, có thể rút ra: Nhân lực của mỗi quốc gia hay một địa phương là tổng hợp những tiềm năng lao động có trong một thời điểm xác định, bao gồm các nhóm yếu tố biểu thị về thể chất, trí tuệ, năng lực, tính năng động xã hội và khả năng phát triển việc làm của bộ phận dân số trong độ tuổi quy định đang có việc làm và chưa có việc làm nhưng có khả năng làm việc. * Nhân lực nông nghiệp Trên cơ sở quan niệm về nhân lực, tiếp cận dưới góc độ kinh tế chính trị, NLNN được hiểu là tổng thể những người trong độ tuổi lao động có năng lực, thể chất và tinh thần tồn tại trong lực lượng lao động xã hội đang tham gia vào quá trình lao động sản xuất nông nghiệp để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần, phục vụ cho nhu cầu phát triển KT-XH. Từ khái niệm trên, NLNN được hiểu là một bộ phận dân số bao gồm những người nằm trong độ tuổi qui định có khả năng lao động và đang tham gia (trực tiếp hoặc gián tiếp, ít nhiều, thường xuyên hoặc không thường xuyên) làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp. Về chất lượng, đó là: tổng hợp những yếu tố về thể lực, trí lực, phẩm chất đạo đức, tác phong làm việc, kỷ luật lao động và kinh nghiệm sống, làm việc của NLNN.
Chất lượng và tiêu chí đánh giá chất lượng nhân lực nông nghiệp * Chất lượng nhân lực nông nghiệp Từ điển Tiếng việt của Viện Ngôn ngữ học, Ủy ban Khoa học xã hội định nghĩa: “Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, Luan van 19 một sự vật, một sự việc”. Chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn với những thuộc tính, những yếu tố cơ bản tạo nên sự vật, hiện tượng, cái quy định phẩm chất, giá trị của sự vật hiện tượng. Như vậy, theo nghĩa chung nhất, chất lượng là thuộc tính chung của mọi sự vật, hiện tượng. Mỗi lĩnh vực cụ thể có chất lượng hoạt động ở lĩnh vực đó.
Ở các lĩnh vực khác nhau, thì yêu cầu về chất lượng cũng khác nhau. Trong lĩnh vực nông nghiệp, CLNL biểu hiện ở tất cả các mặt, các hoạt động trong quy trình SXNN, nó không chỉ thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bản chất bên trong của nhân lực mà còn là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển KT - XH, chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển của con người và đời sống xã hội nói chung. Do vậy, chất lượng NLNN tiếp cận dưới góc độ kinh tế chính trị có thể được hiểu là tổng hợp giá trị của các yếu tố về thể lực, trí lực, năng lực, trình độ, phẩm chất đạo đức, kỹ năng, tác phong, kỷ luật làm việc và kinh nghiệm của người lao động, đảm bảo cho họ thực hiện tốt qui trình sản xuất nông nghiệp nhằm tạo ra của cải vật chất và tinh thần, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp.