phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương, 6 tiết. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Chƣơng 1 NGUỒN NHÂN LỰC VÀ CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRẺ 1. Nguồn nhân lực trẻ và nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực trẻ. Nguồn nhân lực trong hệ thống các nguồn lực của phát triển.
Trong nhiều năm trở lại đây vấn đề nguồn lực phát triển của một quốc gia, dân tộc đang được đặc biệt chú ý nghiên cứu. Dưới dạng tổng quát, nguồn lực được hiểu là toàn bộ những yếu tố đã, đang và sẽ có khả năng góp phần thúc đẩy quá trình cải biến xã hội của một quốc gia, dân tộc. Người ta dựa vào những tiêu chí khác nhau để phân loại nguồn lực: vật chất và tinh thần; kinh tế và xã hội, v.v… Ở nước ta hiện nay đang tồn tại ít nhất năm nguồn lực thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đó là : nguồn lực con người; tài nguyên thiên nhiên ; cơ sở vật chất và khoa học – kỹ thuật; vị trí địa lý và nguồn lực nước ngoài. Có thể xem xét các nguồn lực của sự phát triển này trong một hệ thống, mỗi nhân tố trong hệ thống đó đều có đặc điểm vai trò riêng và có mối quan hệ hữu cơ với các nhân tố khác.
Nguồn lực con người nằm ở trung tâm của hệ thống này, nó giữ vai trò quyết định đối với toàn bộ sự phát triển xã hội. Nguồn lực con người còn được gọi là nguồn nhân lực, đó là vốn người, tài nguyên con người. Hiện nay có nhiều quan niệm về nguồn lực con người. Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ “ vốn người” ( thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp…) mà mỗi cá nhân sở hữu.
Nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác như tiền, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên… Đầu tư cho con người giữ vị trí trung tâm trong các loại đầu tư và được coi là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Liên hiệp quốc đưa ra khái niệm nguồn lực con người là tất cả những kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người có quan hệ tới sự phát triển đất nước. Quan niệm này xem xét nguồn lực con người chủ yếu ở phương diện chất lượng con người và vai trò sức mạnh của nó đối với sự phát triển xã hội. Đây là yếu tố quan trọng bậc nhất trong kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội.
Ở nước ta, một số nhà khoa học tham gia chương trình khoa học – công nghệ cấp nhà nước “ Con người Việt Nam – mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế – xã hội” mang mã số KX – 07 (do GS. Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm), cho rằng, nguồn lực con người được hiểu là dân số và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩm chất, thái độ và phong cách làm việc…[37,tr. Có ý kiến khác nêu ra rằng, nguồn lực con người không chỉ là lực lượng lao động hay nguồn lao động, mà là một tập hợp các yếu tố ( thể lực, trí lực, tâm lực…) của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng tạo nên sức mạnh thúc đẩy sự phát triển xã hội. Theo đó, “ nguồn lực con người là khái niệm chỉ số dân, cơ cấu dân số và nhất là chất lượng con người với tất cả đặc điểm và sức mạnh của nó trong sự phát triển xã hội .33] Từ những quan niệm nêu trên có thể thấy rằng, nguồn lực con người không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động đã có và sẽ có, mà còn là một phức hợp gồm nhiều yếu tố như trí tuệ, sức lực, kỹ năng làm việc của con người.
Ngoài ra cũng có thể hiểu đầy đủ hơn về nguồn lực con người thông qua tìm hiểu khái niệm “ phát triển nguồn nhân lực”. Nếu dịch từ cụm từ tiếng Anh thì phát triển nguồn nhân lực hay phát triển nguồn lực con người là Human Resouce Devolopment ( HRD), còn phát triển con người nói chung là Human Devolopment( HD). Trong khái niệm về phát triển con người ( HD), nguồn lực con người được đề cập đến như một mục tiêu của sự phát triển kinh tế – xã hội, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 như là chỉ tiêu về thành tựu kinh tế của dân tộc. Ngược lại, phát triển nguồn lực con người ( HRD) có xu hướng tập trung vào các hoạt động, nhằm nâng cao khả năng thực hiện các vai trò sản xuất của con người như trí tuệ, kỹ năng làm việc, khả năng tổ chức lãnh đạo và quản lý… Các quan niệm về nguồn lực con người như đã nêu trên tuy khác nhau về ngôn từ và cách thể hiện, nhưng nhìn chung đều đề cập đến yếu tố tinh thần của con người, phản ánh thể lực, trí lực và những phẩm chất tinh thần khác ( tâm lực) ở con người, nhờ đó tạo ra sức mạnh với tư cách là một nguồn lực của sự phát triển xã hội.
Như vậy, theo nghĩa chung nhất, chúng ta có thể hiểu “ Nguồn lực con người” là tổng hợp toàn bộ các yếu tố thể chất và tinh thần của con người, các hoạt động vật chất và tinh thần của họ đã đang và sẽ tạo ra năng lực, sức mạnh thúc đẩy sự phát triển xã hội. Cần hiểu đúng nội hàm khái niệm “nguồn lực con người” để trên cơ sở đó có định hướng đúng đắn cho việc bồi dưỡng, phát triển, khai thác và sử dụng nguồn lực con người, phát huy tốt tiềm năng con người, qua đó khai thác có hiệu quả các nguồn lực khác vì mục tiêu phát triển. Như vậy, cần hiểu khái niệm “ Nguồn lực con người” với nội hàm rộng. Nó bao hàm số lượng dân cư và lao động; tốc độ tăng dân số và lao động; cơ cấu dân cư và lao động; chất lượng dân số và lao động, phản ánh qua trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức- tinh thần, nghĩa là những năng lực và phẩm chất sinh lý – tâm lý – xã hội của con người.
Xét trong hệ thống các nguồn lực của sự phát triển kinh tế – xã hội nói chung cũng như quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nguồn lực con người luôn đứng ở vị trí trung tâm, giữ vai trò quyết định không những đối với việc phát huy mà còn đối với toàn bộ sự phát triển xã hội. Điều này được thể hiện ở các điểm sau : TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Thứ nhất, các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất – kỹ thuật, vị trí địa lý…là những khách thể, chịu sự khai thác, cải tạo của con người và phục vụ cho nhu cầu , lợi ích của con người. Các nguồn lực này chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng, muốn phát huy tác dụng và có ý nghĩa trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì các nguồn lực này phải được kết hợp với nguồn lực con người, thông qua hoạt động có ý thức của con người. Các nguồn lực khác tự nó không thể trở thành nguồn lực.
Trong các nguồn lực, chỉ có con người là nguồn lực duy nhất biết tư duy, có trí tuệ và ý thức để sử dụng các nguồn lực khác và gắn các nguồn lực khác lại với nhau, tạo thành nguồn sức mạnh tổng hợp, cùng tác động vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Thứ hai, so với các nguồn lực khác, chỉ có nguồn lực con người mà cốt lõi là trí tuệ mới là nguồn lực có tiềm năng vô hạn, còn các nguồn lực khác đều hữu hạn. Tính vô hạn của trí tuệ con người được biểu hiện ở chỗ nó có khả năng không chỉ tự sản sinh về mặt sinh học, mà còn tự đổi mới không ngừng, phát triển về chất trong con người xã hội, nếu biết chăm lo nuôi dưỡng và khai thác nguồn lực con người một cách hợp lý, trong khi đó các nguồn lực khác có thể bị khai thác cạn kiệt. Nhà tương lai học người Mỹ Alvin Toffler đã nhận định “ tri thức có tính chất lấy không bao giờ hết” [79, tr.
Thứ ba, trí tuệ con người có sức mạnh áp đảo so với các nguồn lực khác một khi nó được vật thể hoá, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đang dẫn nền kinh tế thế giới vận động đến nền kinh tế của trí tuệ. Ở những nước công nghiệp phát triển, lao động trí tuệ ngày càng chiếm tỷ lệ cao, yếu tố tri thức chiếm tới 65% giá thành sản xuất và 35% giá trị sản phẩm. Giờ đây, sức mạnh của trí tuệ đạt đến mức, nhờ nó con người có thể sáng tạo những máy móc “bắt chước” hay “phỏng” theo những đặc tính trí tuệ của chính con người.
Sức mạnh to lớn của trí TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 tuệ con người đã làm thay đổi thang giá trị của các loại tài nguyên, các loại nguồn lực, và ngày nay đối tượng khai thác đang được chuyển vào chính bản thân con người. Nói cách khác, trong điều kiện ngày nay, trí tuệ con người giữ vai trò quyết định sức mạnh của mỗi quốc gia, nó là tài nguyên của mọi tài nguyên. Thứ tư, con người với tất cả năng lực và phẩm chất tích cực của mình, bao gồm trí tuệ, kinh nghiệm, kỹ năng, tính năng động sáng tạo, niềm tin và ý chí…, thì tự mình có thể trở thành động lực của sự phát triển xã hội nói chung. Đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sự thành công của quá trình này phụ thuộc chủ yếu vào việc hoạch định đường lối, chính sách cũng như tổ chức thực hiện của chủ thể lãnh đạo và quản lý, nghĩa là phụ thuộc vào năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người.
Kinh nghiệm của nhiều nước và thực tiễn của chính nước ta cho thấy, công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá sẽ không đạt được kết quả tốt, thậm chí thất bại, nếu không lựa chọn được mô hình đúng, các bước đi thích hợp và các giải pháp hữu hiệu, phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước và bối cảnh quốc tế, dù có đủ các nguồn lực khác. Điều này, một lần nữa lại nói lên vai trò quyết định của nguồn lực con người – chủ thể trực tiếp, hiện thực của toàn bộ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.