CHƯƠNG 1: CO SO LY LUAN VE NANG CAO CHAT LUQNG NGUON NHAN LUC TRONG DOANH NGHIEP. Nguồn nhân lực Thuật ngữ “Nguồn nhân lực” (humans resourses) được hình thành vào những năm 80 của thế kỷ XX khi có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng con người trong kinh tế lao động. Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Đến nay, khái niệm “Nguồn nhân lực” có rất nhiều cách hiểu với mỗi góc độ tiếp cận khác nhau: Nguồn nhân lực là “những tiềm năng về lao động trong một thời kỳ nhất định của một địa phương, một vùng, một ngành hay một quốc gia”.
Theo cách hiểu này, nguồn nhân lực được coi là nguồn lực con người với các yếu tô thé chat, tinh than tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của một địa phương, một vùng hay một quốc gia. Trong cuốn Public Administration and Public Affairss, Nicolas Henry dinh nghĩa: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của các tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào sự phát triển của một tô chức, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc ø1a, khu vực và thế ĐIỚI ”. Milkovich va John W. Boudreau (2005): “Ngu6n nhân lực là tổng hòa các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân, đảm bảo nguồn sáng tạo và các nội dung khác cho sự thành công và hoàn thành mục tiêu của tô chức ”.
Factors Influencing the Formation of Human Resources, Nataliia Hunko (2013) đã giải thích khái niệm “Nguồn nhân lực” theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa hẹp, nó chủ yếu mô tả thành phần của dân số lao động trong độ tuổi lao động. Nghĩa hẹp này không còn được sử dụng nữa vì nó không phản ánh được thực tế sự vận hành trong mỗi trạng thái thị trường lao động. Thay vào đó, thuật ngữ này được sử dụng theo nghĩa rộng, đó là bao gồm cả những người lao động hiện tại và nguồn lực người lao động trong tương lai gần của xã hội, gồm các đặc điểm định lượng và định tính của chúng.
Trong báo cáo đánh giá về những tác động của toản cầu hoá đối với nguồn nhân lực của Liên hợp quốc lại định nghĩa: “Nguồn nhân lực là trình độ kỹ năng, kiến thức, khả năng thực tế hoặc tiềm năng của con người trong cuộc sống để phát triển kinh tế xã hội trong một cộng đồng”. Định nghĩa này có điểm mới là coi tiềm năng của con người cũng là một loại năng lực, khả năng để từ đó có những cơ chế thích hợp trong việc quản lý, sử dụng. Nguồn nhân lực dưới góc nhìn của kinh tế chính trị là tổng hợp về thê lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của mỗi quốc gia, là kinh nghiệm truyền thống và sáng tạo kết tinh trong trong lịch sử phát triển của một dân tộc, từ đó sản sinh ra của cải, vật chất va tinh than phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của xã hội. Ở nước ta, từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới thì khái niệm nguồn nhân lực đã được biết đến và sử dụng rộng rãi.
Điều này được thê hiện rõ qua nhiều công trình nghiên cứu của các tô chức và nhà khoa học trong nước. Theo Bộ Luật Lao động Việt Nam, khái niệm nguồn nhân lực trong xã hội bao gồm cả những người đang trong độ tuôi lao động và cả người không thuộc độ tuổi lao động nhưng có khả năng lao động hoặc sẽ tham gia lao động. Trong giáo trình “Nguồn nhân lực” của Nhà xuất bản Lao động - Xã hội do PGS.TS Nguyễn Tiệp biên soạn (2005) (Tr8): “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thê coi đây là nguồn nhân lực xã hội” Theo PGS. Trần Xuân Cầu, PGS.
Mai Quốc Chánh (2008): “nguồn nhân lực bao gồm qua hai khía cạnh là số lượng và chất lượng. Số lượng nguồn nhân lực thể hiện quy mô và tốc độ tăng trưởng nguồn nhân lực hàng năm. Chat lượng nguồn nhân lực thê hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực, được biểu hiện qua các tiêu chí: sức khoẻ, trình độ chuyên môn, trình độ học vân, mức độ lành nghê.” Dù có nhiều cách hiểu về thuật ngữ “Nguồn nhân lực”, nhưng ta có thể nhận thấy chúng đều xoay quanh 3 vấn đề chung: + Số lượng nhân lực: Nhắc đến nguồn nhân lực của một tổ chức, một địa phương hay một xã hội nào, câu hỏi đặt ra đầu tiên sẽ là có bao nhiêu người lao động và sẽ có thêm bao nhiêu người nữa trong tương lai. Day là những câu hỏi giúp cho việc xác định số lượng nguồn nhân lực.
+ Chất lượng nhân lực: là yếu tố được cấu thành từ nhiều yếu tố bộ phận như sức khoẻ, trí tuệ, hiểu biết, trình độ, kỹ năng, đạo đức và óc thâm mỹ. của người lao động. Trong đó, yếu tổ thê lực và trí lực là 2 yếu tố quan trọng nhất trong việc đánh giá chất lượng nguồn nhân lực. + Cơ cấu nhân lực: đây là một yếu tố không thể thiếu khi xem xét đánh giá về nguồn nhân lực, được thê hiện trên các phương diện khác nhau như: cơ cấu học vấn, đào tạo, cơ cấu độ tuôi, giới tính.
Cơ cầu nguồn nhân lực của một tổ chức nói chung được quyết định bởi cơ cấu kinh tế và co cau đảo tạo. Tổng kết lại, ta có thể định nghĩa khái quát được: “Nguồn nhân lực là nguồn lực của con người cung cấp sức lao động cho sản xuất phát triển một tổ chức hay một xã hội, tức là bao gồm tất cả các thành viên của tổ chức vận dụng khả năng và tiềm năng để thành lập, duy trì và phát triển tổ chức. Nguồn nhân lực được cấu thành từ 3 yếu tố : số lượng, chất lượng và cơ cấu nhân lực. Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Từ những phân tích về thuật ngữ “nguồn nhân lực” kể trên, ta có thê hiểu về khái niệm “nguồn nhân lực trong doanh nghiệp” như sau: “Nguồn nhân lực của doanh nghiệp là nguồn lực của con người cung cấp sức lao động cho sản xuất phát triên doanh nghiệp, tức là bao gồm tất cả các thành viên vận dụng khả năng và tiềm năng đề thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp đó”.Racey: “Nguồn nhân lực của doanh nghiệp là tất cả những người làm việc trong doanh nghiệp đó, là tài sản của doanh nghiệp đó nhưng không giống tài lực hay vật lực, mà tài sản này biết tạo ra các mối quan hệ, giao dịch và làm giàu cho doanh nghiệp”.TS Bui Van Nhon (2006): “Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao đồng của từng doanh nghiệp, là số người trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương”.
Tuy nhiền, với việc Bộ Luật lao động (2012) chính thức cho phép hoạt động “thuề ngoài lao động”; sẽ tồn tại một bộ phận lao động làm việc tại doanh nghiệp, là nguồn lực đóng góp trực tiếp vào sự phát triển của doanh nghiệp, nhưng khổng thuóc danh sách doanh nghiệp đó trực tiếp quản lý và trả lương. Do đó, trong tình hình hiện nay, định nghĩa trên cần sự biện luận nhiều hơn nhằm gia tăng tính thuyết phục. Lê Thị Mỹ Linh, trong luận án tiến sĩ của mình với đề tài: “Phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế” (2009) đã định nghĩa: “Nguồn nhân lực của một doanh nghiệp bao gồm tất cả những người lao đóng làm việc trong doanh nghiệp đó có sức khoẻ và trình độ khác nhau, họ có thê tạo thành một sức mạnh hoàn thành tốt mục tiều của tổ chức nếu được động viên, khuyến khích phù hợp”. Có thể xem đây là một định nghĩa tương đối đầy đủ và toàn diện.
Nhưng khái niệm này vẫn chưa nều rõ ưu điểm nỗi trội của nguồn nhân lực so với các nguồn lực khác trong doanh nghiệp. Như vậy, nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là tất cả những con người, ở tất cả các vị trí khác nhau trong doanh nghiệp, đã và đang cống hiến năng lực, trí thức, sức khoẻ của mình với mục tiêu xây dựng và phát triển doanh nghiệp. Chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Sự phát triển của một doanh nghiệp phụ thuộc vào chất lượng nguồn nhân lực của nó. Vậy “chất lượng nguồn nhân lực” là gì? Chất lượng nguồn nhân lực là trình độ, kiến thức, kỹ năng và thái độ của người lao động đối với công việc.
Mỗi người lao động có năng lực, nhiệt huyết sẽ giúp tô chức phát triển, mặt khác, những người không đủ tiêu chuẩn và không nhiệt tình sẽ trở thành gánh nặng của tổ chức.TS Phùng Rân, chất lượng nguỗồn nhân lực được đánh giá qua hai tiêu chí, bao gồm: +Năng lực hoạt động của nguồn nhân lực, là năng lực có được thông qua giáo dục, đào tạo và huân luyện, qua thời gian làm việc và được đánh giá băng học hàm, 10 học vị, cấp bậc chuyên môn và kỹ năng giải quyết công việc. Năng lực này là kết quả giáo dục đào tạo lâu dài của cả cộng đồng chứ không riêng một tổ chức nào. Theo quan điểm này, năng lực của nguồn nhân lực còn có thể hiểu là chuyên môn của nguồn nhân lực. +Pham chat dao đức nguồn nhân lực, tiêu chí này được biểu hiện qua phong cách, thái độ và ý thức làm việc, quan hệ lao động, văn hóa doanh nghiệp.
và có thể được hiểu là tâm lực lao động. Việc xây dựng các tiêu chuẩn nhằm đánh giá phẩm chất nguồn nhân lực khó khăn hơn năng lực nguồn nhân lực bởi vì tiêu chí nảy mang tính nhạy cảm, khó đo lường vì chịu sự chi phối bởi yếu tố tâm lý bên trong.TS Mai Quốc Chánh lại nhận định: “Chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là một trạng thái của nguồn nhân lực trong doanh nghiệp, biểu hiện qua mối liên hệ giữa các yếu tô cầu thành như thể lực, trí lực, đạo đức phẩm chất.” Theo giáo trình Nguồn nhân lực (Tr§, 9), PGS.