CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI TỔNG CÔNG TY VIỄN THÔNG TOÀN CẦU (GTEL) 1. Khái niệm vai trò của chất lượng nguồn nhân lực 1. Nhân lực Nói đến nhân lực là nói đến con người, nói đến một thực thể sinh vật người mà trong đó có sự thống nhất của cái sinh vật và cái xã hội năm 2002. Theo đại từ điển kinh tế thị trường thì nhân lực: Nhìn từ góc độ kinh tế chính trị chủ yếu là chỉ lực lượng và năng lực những người làm lao động sản xuất (bao gồm cả lao động thể lực và lao động trí tuệ) cũng tức là sức lao động.Mác đã từng chỉ ra rằng: sức lao động hay năng lực lao động tồn tại trong thân thể con người, tức là thân thể người sống.
Mỗi khi con người sản xuất ra giá trị sử dụng nào đó thì phải vận dụng tổng hòa thể lực và trí lực. Sức lao động là tổng hòa toàn bộ thể lực, trí lực tồn tại trong cơ thể sống của con người do con người chi phối. Sức lao động chỉ là khả năng lao động, còn lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện thực. Trong hoạt động sản xuất ra của cải vật chất của loài người, năng lực lao động của con người có tác dụng chi phối chủ yếu, là nhân tố có tính quyết định đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội.
Sự phân công lao động xã hội càng sâu sắc, xã hội hóa nền sản xuất càng cao thì tính chất xã hội của sức lao động của mỗi con người càng nhiều hơn. Trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội cần phải phát huy đầy đủ tài nguyên nhân lực, phát huy tính chủ động tích cực sáng tạo của người lao động. Theo TS Đỗ Minh Cương và PGS.TS Nguyễn Thị Doan: “Nhân lực là những cá nhân có nhân cách, có khả năng lao động sản xuất” năm 2001 Từ sự phân tích trên đây có thể đưa ra khái niệm: Nhân lực là cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất, trí tuệ và năng lực của con người được huy động vào quá trình lao động. Nguồn nhân lực Ngày nay nguồn nhân lực (còn gọi là nguồn lực con người, vốn người) được đánh giá là sức mạnh, nguồn lực quan trọng nhất, quyết định nhất của lực lượng sản xuất xã hội, giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong cơ cấu các yếu tố phát triển kinh tế.
Khái niệm nguồn nhân lực trở thành một công cụ cơ bản để điều hành sự phát triển kinh tế xã hội. Con người được coi như một thứ tài nguyên đặc biệt, là loại vốn quý giá nhất. Có một số quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực tùy theo cách tiếp cận như sau: - Nguồn nhân lực với tư cách là một nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, là khả năng lao động của xã hội được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, thể chất nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. - Nguồn nhân lực còn được hiểu với tư cách là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động.
- Nguồn nhân lực được các nhà kinh tế xem xét là tổng hòa trong thể thống nhất hữu cơ giữa năng lực xã hội của con người (bao gồm thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội của con người. Các quan niệm trên chỉ khác nhau về việc xác định quy mô nguồn nhân lực, song đều nhất trí ở chỗ nguồn nhân lực nói lên tiềm năng lao động như là một nguồn lực vô tận, không có giới hạn của xã hội. Tác giả Lê Thị Ngân cho rằng: Nguồn nhân lực là một khái niệm rộng, mà nội dung của nó bao gồm hai khía cạnh, thứ nhất đó là toàn bộ sức lao động và khả năng hoạt động của lực lượng lao động xã hội, thứ hai Là sức lao động, khả năng, trình độ, ý thức của từng cá nhân và mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân đó. Mặt thứ hai của nguồn nhân lực đang ngày càng được quan tâm và rất có ý nghĩa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.
Chính mặt thứ hai đó nói nên chất lượng của nguồn nhân lực. Muốn tiếp cận nền kinh tế tri thức phải có nguồn nhân lực chất lượng cao Như vậy, nguồn nhân lực không chỉ đơn thuần là số lượng lao động đã có và sẽ có mà nó còn phải bao gồm một tổng thể các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng 7 làm việc, thái độ phong cách làm việc., tất cả những yếu tố đó ngày nay đều thuộc về chất lượng nguồn nhân lực. Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và nhu cầu sử dụng lao động, những người lao động phải được đào tạo, phân bổ và sử dụng theo cơ cấu hợp lý, đảm bảo hiệu quả cao nhất trong sử dụng. Một quốc gia có lực lượng lao động đông đảo nhưng nếu phân bố không hợp lý giữa các ngành, các vùng, cơ cấu đào tạo không phù hợp nhu cầu sử dụng, thì lực lượng lao động đông đảo đó không những không trở thành nguồn nhân lực để phát triển mà nhiều khi còn là gánh nặng cản trở sự phát triển.
Có thể nói nguồn lực con người (nguồn nhân lực) là động lực của sự phát triển. Trong 4 nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội bao gồm: Nguồn nhân lực, vật lực, tài lực, trí lực thì nguồn nhân lực giữ vai trò quan trọng nhất, nó là chìa khóa của mọi chìa khóa mở ra bí quyết cho sự phát triển. Các nguồn lực kia chỉ phát huy tác dụng và có ý nghĩa tích cực xã hội khi kết hợp nguồn lực con người, thông qua hoạt động của con người. Con người với trí tuệ của mình là nguồn lực không bao giờ cạn kiệt, có khả năng phục hồi và tái sinh.
Theo các nhà kinh điển, con người là điểm khởi đầu và cũng là điểm kết thúc của quá trình biến đổi lịch sử. Từ xa xưa, con người bằng công cụ thủ công và nguồn lực do chính bản thân mình tạo ra để sản xuất ra sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Sản xuất ngày càng phát triển, phân công lao động ngày càng chi tiết, hợp tác ngày càng chặt chẽ tạo cơ hội để chuyển dần hoạt động của con người cho máy móc thiết bị thực hiện (Các động cơ phát lực), làm thay đổi tính chất của lao động từ lao động thủ công sang lao động cơ khí và lao động trí tuệ. Nhưng ngay cả trong những điều kiện đạt được tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại như hiện nay thì cũng không thể tách rời nguồn lực con người bởi lẽ: - Chính con người đã tạo ra những máy móc thiết bị hiện đại đó.
Điều đó thể hiện mức độ hiểu biết và chế ngự tự nhiên của con người. - Ngay cả đối với máy móc thiết bị hiện đại, nếu thiếu sự điều khiển, kiểm tra của con người, thì chúng chỉ là vật chất. Chỉ có tác động của con người mới phát động chúng và đưa chúng vào hoạt động. 8 - Nguồn nhân lực có vai trò vô cùng quan trọng trong mọi tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp.
- Nguồn nhân lực là nhân tố chủ yếu tạo lợi nhuận cho doanh nghiệp: Nguồn nhân lực đảm bảo mọi nguồn sáng tạo trong tổ chức. Chỉ có con người mới sáng tạo ra các hàng hoá, dịch vụ và kiểm tra được quá trình sản xuất kinh doanh đó. Mặc dù trang thiết bị, tài sản, nguồn tài chính là những nguồn tài nguyên mà các tổ chức đều cần phải có, nhưng trong đó tài nguyên nhân văn - con người lại đặc biệt quan trọng. Không có những con người làm việc hiệu quả thì tổ chức đó không thể nào đạt tới mục tiêu.
- Nguồn nhân lực là nguồn lực mang tính chiến lược: Trong điều kiện xã hội đang chuyển sang nền kinh tế tri thức, thì các nhân tố công nghệ, vốn, nguyên vật liệu đang giảm dần vai trò của nó. Bên cạnh đó, nhân tố tri thức của con người ngày càng chiến vị trí quan trọng: Nguồn nhân lực có tính năng động, sáng tạo và hoạt động trí óc của con người ngày càng trở nên quan trọng. - Nguồn nhân lực là nguồn lực vô tận: Xã hội không ngừng tiến lên, doanh nghiệp ngày càng phát triển và nguồn lực con người là vô tận. Nếu biết khai thác nguồn lực này đúng cách sẽ tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của con người.
Vì vậy, nếu xem xét nguồn lực là tổng thể những năng lực (cơ năng và trí năng) của con người được huy động vào quá trình sản xuất, thì năng lực đó là nội lực quan trọng cho sự phát triển. Trong phạm vi xã hội, đó là một trong những nguồn nội lực quan trọng cho sự phát triển. Đặc biệt đối với những nước có nền kinh tế đang phát triển như nước ta, dân số đông, nguồn nhân lực dồi dào đã trở thành nguồn lực quan trọng nhất, nếu biết khai thác nó sẽ tạo nên một động lực to lớn cho sự phát triển. Nội dung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Theo sự phân tích của Tạ Ngọc Hải, Viện khoa học tổ chức Nhà nước thì chất lượng nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như trí tuệ, sự hiểu biết, trình độ, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, thẩm mỹ…của người lao động.
9 Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng để xem xét và đánh giá chất lượng nguồn nhân lực.TS Bùi Văn Nhơn giải thích, chất lượng nguồn nhân lực gồm trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý xã hội trong đó: Thể lực của nguồn nhân lực là sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần; Trí lực của nguồn nhân lực là trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng lao động thực hành của người lao động; Phẩm chất tâm lý xã hội; Kỷ luật, tự giác, có tinh thần hợp tác và tác phong công nghiệp, có tinh thần trách nhiệm cao.