CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực "Nguồn lực con người" hay "nguồn nhân lực”, là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển. Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước đã đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực với các góc độ khác nhau. Định nghĩa 1: Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó (Nguyễn Ngọc Quân, Nguyễn Vân Điềm, 2012, tr. Định nghĩa 2: Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai.
Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội (Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh, 2011, tr. Định nghĩa 3: Xét về góc độ vi mô, trong từng doanh nghiệp, có tác giả nhận định rằng bất cứ doanh nghiệp nào cũng được tạo thành bởi các thành viên là con người hay nguồn lực của nó. Do đó, có thể nói nguồn nhân lực của một doanh nghiệp bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong doanh nghiệp đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn nhân lực của mỗi con người mà nguồn nhân lực này gồm có thể lực và trí lực (Nguyễn Ngọc Quân, Nguyễn Vân Điềm, 2012, tr. Vì vậy, có thể định nghĩa: “Nguồn nhân lực” là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức - tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ nhu cầu hiện tại và tương lai của mỗi tổ chức.
- Chất lượng nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực không chỉ được xem dưới góc độ số lượng mà còn ở khía cạnh 9 chất lượng. Chất lượng nguồn nhân lực được hiểu là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nguồn nhân lực (Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh, 2011, tr.55) Có tác giả nhận định rằng: “Chất lượng nguồn nhân lực là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động với yêu cầu công việc của doanh nghiệp và đảm bảo cho doanh nghiệp thực hiện thắng lợi mục tiêu cũng như thỏa mãn cao nhất nhu cầu của người lao động” (Lê Thị Thanh Mai, 2011, tr. Ngoài ra, có tác giả cho rằng chất lượng nguồn nhân lực được đo bằng 2 tiêu chí: “năng lực hoạt động của nguồn nhân lực và phẩm chất đạo đức của nguồn nhân lực đó” (Phùng Rân, 2008, tr. Năng lực hoạt động có được thông qua đào tạo, qua huấn luyện, qua thời gian làm việc được đánh giá bằng học hàm, học vị, cấp bậc công việc và kỹ năng giải quyết công việc.
Phẩm chất đạo đức là khả năng dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và khó có tiêu chí nào làm thước đo để đánh giá phẩm chất đạo đức của nguồn nhân lực. Từ các quan điểm trên tuy tiếp cận chất lượng nguồn nhân lực ở các khía cạnh khác nhau nhưng nhìn chung lại thì chất lượng nguồn nhân lực là một khái niệm tổng hợp, thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực, bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái thể lực, trí lực, đạo đức và phẩm chất; đáp ứng khả năng làm việc của người lao động theo yêu cầu công việc của doanh nghiệp.2 Các yếu tố cấu thành chất lượng nguồn nhân lực Về bản chất, chất lượng nhân lực là yếu tố tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái, thể lực, trí lực, kỹ năng, phong cách đạo đức, lối sống tinh thần của nguồn nhân lực. Nói cách khác, trình độ học vấn, tình trạng sức khỏe, trình độ chuyên môn kỹ thuật…thể hiện chất lượng nhân lực. Thể lực là trạng thái sức khỏe của con người, là điều kiện đảm bảo cho con người phát triển, trưởng thành một cách bình thường, hoặc có thể đáp ứng được những đòi hỏi về sự hao phí sức lực, thần kinh, cơ bắp và có khả năng trong lao động sản xuất.
Đây là cơ sở quan trọng cho hoạt động thực tiễn của con người có thể đáp 10 ứng được những đòi hỏi về hao phí sức lao động trong quá trình sản xuất, với những công việc cụ thể khác nhau và đảm bảo cho con người có khả năng học tập và lao động lâu dài. (Trần Kim Dung 2018, tr.52) Trí lực là năng lực của trí tuệ là trình độ hiểu biết của người lao động, tồn tại bên trong con người như tài năng, năng khiếu do thiên bẩm và qua quá trình phấn đấu học tập, rèn luyện của mỗi cá nhân tạo nên (Nguyễn Vân Điềm & Nguyễn Ngọc Quân, 2007, tr. Tâm lực là những giá trị chuẩn mực đạo đức, phẩm chất tốt đẹp và sự hoàn thiện nhân cách của con người. Tâm lực còn được gọi là phẩm chất tâm lý – xã hội, đó chính là tác phong, tinh thần – ý thức trong lao động như: tác phong công nghiệp (khẩn trương, đúng giờ…), có ý thức tổ chức kỷ luật và tự giác cao trong lao động, có niềm say mê chuyên môn nghề nghiệp; năng động, sáng tạo, trách nhiệm và có mối quan hệ tốt trong công việc; có khả năng chuyển đổi công việc cao thích ứng với những thay đổi trong lĩnh vực công nghệ và quản lý (Nguyễn Vân Điềm & Nguyễn Ngọc Quân, 2007, tr.3 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chính là sự tăng cường sức mạnh và kỹ năng hoạt động sáng tạo của năng lực thể chất và năng lực tinh thần của lực lượng lao động lên đến một trình độ nhất định để lực lượng này có thể hoàn thành được nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong một giai đoạn phát triển của một quốc gia, một tổ chức” (Triệu Tuệ Anh, Lâm Trạch Viên, 2004, tr.
Do đó, chất lượng nguồn nhân lực chính là động lực trực tiếp cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Thông qua chất lượng nguồn nhân lực, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, chất lượng cuộc sống của dân cư hay mức độ văn minh của một xã hội được thể hiện rõ. Từ góc độ kinh tế phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cần chú ý đến một số vấn đề sau: Thứ nhất, Số lượng nguồn nhân lực chính là lực lượng lao động và khả năng cung cấp lực lượng lao động được xác định dựa trên quy mô dân số, cơ cấu tuổi giới tính, sự phân bố dân cư theo khu vực và lãnh thổ. Nó còn thể hiện tốc độ tăng nguồn 11 nhân lực hàng năm.
Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực, được biểu hiện thông qua các tiêu chí: sức khoẻ, trình độ chuyên môn, trình độ học vấn và phẩm chất tâm lý xã hội. Thứ hai, những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực là sự kết hợp giữa trí lực, thể lực và tâm lực. Do đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là việc nâng cao thể lực, nâng cao trí lực, nâng cao tâm lực của người lao động và hợp lý hóa cơ cấu lao động trong tổ chức.2 Tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực 1.1 Tiêu chí đánh giá thể lực Thể lực chính là sức khỏe, trạng thái sức khỏe về thể chất cũng như tinh thần của nguồn nhân lực. Theo tổ chức y tế thế giới WHO, sức khỏe của một cá nhân là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không phải chỉ là không có bệnh hay thương tật.
Thể lực là sự phát triển hài hòa của con người về sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần. Sức khỏe cơ thể là sự cường tráng, khả năng mang vác, lao động tay chân. Sức khỏe tinh thần là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, khả năng vận động của trí tuệ, biến tư duy thành hành động. Đánh giá sức khỏe, thể lực của người lao động được căn cứ vào các tiêu chí: tuổi, giới tính, tình trạng sức khỏe và mức độ sức khỏe đáp ứng yêu cầu công việc của người lao động trong kỳ khảo sát.
Các chỉ tiêu để đánh giá chất lượng thể lực của nhân lực là người Việt Nam được căn cứ vào Quyết định số 1613/BYT-QĐ ngày 15/8/1997 của Bộ Y tế. Theo tiêu chuẩn này, thể lực của người lao động Việt Nam được chia làm 5 loại: - Sức khỏe loại I: Rất khỏe - Sức khỏe loại II: Khỏe - Sức khỏe loại III: Trung bình - Sức khỏe loại IV: Yếu - Sức khỏe loại V: Rất yếu 1.2 Tiêu chí đánh giá trí lực Tri thức là yếu tố cơ bản của trí lực, là sự tổng hợp khái quát kinh nghiệm cuộc 12 sống, là nhận thức lý tính. Nắm bắt được tri thức sẽ thuận lợi trong việc chỉ đạo thực tiễn, có lợi trong việc nâng cao khả năng phân tích và lý giải vấn đề. Trí lực là sự kết tinh của tri thức nhưng không phải là tri thức xếp đống.
Một đống tri thức đơn giản chỉ có thể là cuốn từ điển trong kho chứa sách và được mọi người sử dụng, còn kết tinh lại bao gồm cả việc chắt lọc, cải tạo và chế tác tri thức. Đối với những người theo chủ nghĩa Mác, trí lực là năng lực nhận thức và cải tạo thế giới. Như thế có nghĩa là loại năng lực ấy phải lấy sự vận dụng tri thức tiến hành khoa học và lao động làm nội dung. Trí lực ngoài việc chiếm giữ tri thức ra còn phải có một phương pháp tư duy khoa học và kĩ năng kĩ xảo điêu luyện và có thể được thể hiện qua các nội dung: (1) Trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn nghiệp vụ Trình độ văn hóa là khả năng về tri thức và kỹ năng để có thể tiếp thu những kiến thức cơ bản, thực hiện những việc đơn giản để duy trì sự sống.
Trình độ văn hóa được cung cấp thông qua hệ thống giáo dục chính quy, không chính quy; qua quá trình học tập suốt đời của mỗi cá nhân.