CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC CHĂM SÓC KHÁCH HÀNG TẠI NGÂN HÀNG 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Chăm sóc khách hàng tại Ngân hàng Cùng với nhận thức đúng đắn về vai trò của khách hàng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, ngày nay công tác CSKH rất được chú trọng và được coi là một phần quan trọng của Marketing, đảm bảo sự thành công của bất cứ doanh nghiệp nào. Theo Pat Wellington (2010) CSKH có hiệu quả là “những hướng dẫn cơ bản nhằm tạo ra dịch vụ khách hàng hoàn hảo không chỉ để thoả mãn khách hàng, dẫn đến các đơn hàng, mà còn gắn kết quan hệ khách hàng và xây dựng sự chung thuỷ của khách hàng và cuối cùng đem lại lợi nhuận” [1].
CSKH là hoạt động mang tính chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp để tiếp cận và giữ khách hàng cả bằng lý trí và tình cảm. Đầu tư cho CSKH không phải là các khoản chi phí thông thường, mà là đầu tư có tính lâu dài, mang tầm chiến lược. Chăm sóc khách hàng không chỉ là thái độ lịch sự và thân thiện khi tiếp xúc với khách hàng hay CSKH cũng không đơn giản là việc của những nhân viên có liên hệ trực tiếp với khách hàng, mà việc CSKH phải được thực hiện trên mọi khía cạnh của sản phẩm và dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Chăm sóc khách hàng là yếu tố quan trọng nhưng không phải là yếu tố duy nhất để có thể giữ chân khách hàng sử dụng sản phẩm hay dịch vụ.
Nếu với một sản phẩm hay dịch vụ kém chất lượng cho dù có công tác chăm sóc khách hàng tốt thì khách hàng vẫn có thể rời bỏ doanh nghiệp. Tất cả những nụ cười thân thiện và những lời chào mời ngọt ngào không thể bù đắp cho những sản phẩm hay dịch vụ không đạt tiêu chuẩn. Công tác CSKH chỉ có thể được công nhận là tốt nếu nó gắn liền với một sản phẩm chất lượng hay một dịch vụ tốt. Như vậy, CSKH là là tất cả những gì cần thiết mà doanh nghiệp phải làm để thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng, tức là phục vụ khách hàng theo cách mà họ mong muốn được phục vụ và làm những việc cần thiết để giữ các khách hàng mình đang có.
9 Trong lĩnh vực ngân hàng, mức độ cạnh tranh ngày càng gia tăng, do đó nội dung hoạt động CSKH mà các Ngân hàng ngày nay đưa ra cũng ngày càng phong phú, đa dạng. Thật khó có thể liệt kê và phân loại các hoạt động đó rõ ràng, chính xác. Ở mức độ tương đối, hoạt động CSKH của ngân hàng được chia theo các nhóm hoạt động sau: - Các hoạt động liên quan đến sản phẩm dịch vụ: Ngân hàng phát triển càng nhiều sản phẩm dịch vụ, thì càng đáp ứng được đầy đủ những nhu cầu của khách hàng, mang lại sự tiện lợi khi khách hàng đến giao dịch. - Các hoạt động mang lại sự thuận tiện: Các yếu tố mang lại sự thuận tiện như chọn địa điểm giao dịch, bố trí nơi bán hàng thích hợp, giờ mở cửa phù hợp với thời gian của khách hàng, giao sản phẩm đến tận nhà cho khách hàng quen, bố trí một đường dây nóng để khách hàng có thể hỏi đáp hay yêu cầu tư vấn 24/24h, xây dựng một trang Web giúp khách hàng tìm hiểu về sản phẩm, sử dụng các dịch vụ trực tuyến, giao dịch tại nhà… - Các hoạt động liên quan tới yếu tố con người: Các hoạt động này được thể hiện qua kỹ năng, trình độ, thái độ, hành vi của các nhân viên.
Sự am hiểu tường tận về công dụng, chức năng, đặc tính, cách sử dụng… của sản phẩm, thao tác thuần thục khi cung cấp dịch vụ, thái độ niềm nở, thân thiện khi tiếp xúc… - Các hoạt động CSKH khác: Các hoạt động khác như tặng quà, hỏi thăm nhân những dịp đặc biệt như lễ tết, sinh nhật khách hàng…, tổ chức hội nghị khách hàng theo định kỳ, gửi mẫu sản phẩm mới để khách hàng tham khảo… Các hoạt động này nhằm tăng cường mối quan hệ thân thiết với khách hàng, để khách hàng biết rằng họ được doanh nghiệp quan tâm mọi nơi, mọi lúc. Nhân lực chăm sóc khách hàng tại Ngân hàng Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động- con người có sức lao động. 10 Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người, gồm có thể lực và trí lực.
Thể lực được hiểu là sức khỏe của nhân viên. Thể lực, phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của từng người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế, độ tuổi, giới tính, thời gian công tác …Trí lực được hiểu là sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách … của từng người. Trong tổ chức, nhân lực được hiểu là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng trong quá trình lao động sản xuất. Nó cũng được xem là sức lao động của con người - một nguồn lực quý giá nhất trong các nguồn lực của tổ chức.
Nhân lực của tổ chức bao gồm tất cả những người làm việc trong tổ chức, là yếu tố cấu thành nên tổ chức, vận hành và quyết định sự thành bại của tổ chức. Từ phân tích trên có thể rút ra khái niệm: nhân lực chăm sóc khách hàng tại ngân hàng được hiểu là toàn bộ con người làm công việc chăm sóc khách hàng, như là các hoạt động liên quan đến sản phẩm dịch vụ, các hoạt động mang lại sự thuận tiện, các hoạt động liên quan tới yếu tố con người, tại ngân hàng. Chất lượng nhân lực chăm sóc khách hàng Có nhiều cách tiếp cận khác nhau nên có nhiều cách hiểu khác nhau về chất lượng nhân lực. Theo quan điểm của Nguyễn Tiệp (2011) chất lượng nhân lực là khái niệm tổng hợp về những người thuộc nhân lực được thể hiện ở các mặt sau đây: sức khỏe của người lao động, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kĩ thuật, năng lực thực tế về tri thức, kĩ năng nghề nghiệp, tính năng động xã hội (gồm khả năng sáng tạo, sự linh hoạt, nhanh nhẹn trong công việc,…), phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ đối với công việc, môi trường làm việc, hiệu quả hoạt động lao động của nhân lực và thu nhập mức sống và mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân (gồm nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của người lao động” [25].
Vũ Thị Ngọc Phùng (2006) cho rằng chất lượng nhân lực được đánh giá qua trình độ học vấn, chuyên môn và kĩ năng của người lao động cũng như sức 11 khỏe của họ” [14, Tr. Theo quan điểm này thì chất lượng nhân lực được đánh giá thông qua các tiêu chí: trình độ học vấn, chuyên môn và kĩ năng (thuộc trí lực) và sức khỏe (thuộc thể lực). Các tiêu chí này được định lượng hóa bằng các cấp bậc học, các bậc đào tạo chuyên môn mà có và có thể đo lường được tương đối dễ dàng. Theo Phạm Xuân, Mai Quốc Chánh (2009) chất lượng nhân lực được xem xét trên các mặt: trình độ sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất” [3].
Như vậy, việc đánh giá chất lượng nhân lực được tác giả “xem xét trên các mặt” chứ không coi đó là các tiêu chí cần thiết và bắt buộc phải có, do đó, có thể có mặt “được xem xét”, có mặt “chưa được xem xét” và có thể có mặt “không được xem xét” đến. Chất lượng nhân lực là một khái niệm có nội hàm rất rộng, là một trong những yếu tố để đánh giá nhân lực. Chất lượng nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nhân lực, bao gồm: trí lực, thể lực và tinh thần. Trí lực: là năng lực của trí tuệ, quyết định phần lớn khả năng lao động sáng tạo của con người.
Trí tuệ được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu của nguồn lực con người bởi tất cả những gì thúc đẩy con người hành động tất nhiên phải thông qua đầu óc của họ. Khai thác và phát huy tiềm năng trí tuệ trở thành yêu cầu quan trọng nhất của việc phát huy nguồn lực con người. Gồm trình độ tổng hợp từ văn hoá, chuyên môn, kỹ thuật, kỹ năng lao động. Trình độ văn hoá, với một nền tảng học vấn nhất định là cơ sở cho phát triển trình độ chuyên môn kỹ thuật.
Trình độ chuyên môn kỹ thuật là điều kiện đảm bảo cho NNL hoạt động mang tính chuyên môn hoá và chuyên nghiệp hoá. Kỹ năng lao động theo từng nghành nghề, lĩnh vực là một yêu cầu đặc biệt quan trọng trong phát triển NNL ở xã hội công nghiệp. Thể lực: là trạng thái sức khoẻ của con người, là điều kiện đảm bảo cho con người phát triển, trưởng thành một cách bình thường, hoặc có thể đáp ứng được những đòi hỏi về sự hao phí sức lực, thần kinh, cơ bắp trong lao động. Trí lực ngày càng đóng vai trò quyết định trong sự phát triển NNL, song, sức mạnh 12 trí tuệ của con người chỉ có thể phát huy được lợi thế trên nền thể lực khoẻ mạnh.
Chăm sóc sức khoẻ là một nhiệm vụ rất cơ bản để nâng cao chất lượng NNL, tạo tiền đề phát huy có hiệu quả tiềm năng con người. Tinh thần: còn gọi là phẩm chất tâm lý – xã hội, chính là tác phong, tinh thần – ý thức trong lao động như: tác phong công nghiệp (khẩn trương, đúng giờ.), có ý thức tự giác cao, có niềm say mê nghề nghiệp chuyên môn, sáng tạo, năng động trong công việc; có khả năng chuyển đổi công việc cao thích ứng với những thay đổi trong lĩnh vực công nghệ và quản lý. Từ các quan điểm trên, có thể rút ra khái niệm chung nhất về chất lượng nhân lực như sau: Chất lượng nhân lực là toàn bộ năng lực của lực lượng lao động như kiến thức, kỹ năng xử lý công việc và thái độ trong công việc cũng như thể lực của lực lượng lao động để thực hiện mục tiêu của tổ chức, doanh nghiệp.