CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.Dịch vụ ngân hàng thương mại 1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng thương mại Từ đầu những năm 1980, nhận ra tầm quan trọng của ngành dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân nên các nhà nghiên cứu trên thế giới đã tập trung nghiên cứu vào lĩnh vực này. Tuy nhiên, do tính chất phức tạp của ngành dịch vụ nên cho đến nay, chưa có một định nghĩa, khái niệm nào hoàn chỉnh về dịch vụ. Ở góc độ về thống kê kinh tế, dịch vụ là một lĩnh vực kinh tế không bao gồm các ngành nông nghiệp và công nghiệp, thường liên quan con người (giáo dục, y tế), đến sản phẩm (sửa chữa, vận chuyển) hoặc thông tin (nghiên cứu thị trường) [2, tr.
Tại trang 167 từ điển Bách khoa Việt Nam giải thích: Dịch vụ là các hoạt động phục vụ, nhằm thỏa mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt. Tuy nhiên theo kinh tế học, dịch vụ lại được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất [2, tr. Như vậy, chúng ta vẫn chưa có một định nghĩa cụ thể nào cho ngành dịch vụ. Đối với ngành ngân hàng, về bản chất là được xét thuộc nhóm ngành dịch vụ không trực tiếp tạo ra sản phẩm cụ thể.
Vậy DVNH là gì? DVNH được hiểu là tập hợp những đặc điểm, tính năng, công dụng do ngân hàng tạo ra nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn nhất định của khách hàng trên thị trường tài chính. Cụ thể là các nghiệp vụ về vốn, tiền tệ, thanh toán mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng từ đó ngân hàng thu về chênh lệch giữa lãi suất, tỷ giá hay thu phí dịch vụ. Tại các nước phát triển hiện nay, ngân hàng dần trở thành một siêu thị dịch vụ với hàng trăm thậm chí hàng ngàn dịch vụ khác nhau tùy theo cách phân loại và trình độ phát triển của ngân hàng. 5 Theo WTO - Tổ chức thương mại thế giới thìdịch vụ ngân hàng nằm trong dịch vụ tài chính bao gồm các nghiệp vụ: nhận tiền gửi, cho vay, thuê tài chính, quản lý tài sản, tiền mặt, dịch vụ thanh toán, dịch vụ tư vấn… Từ những định nghĩa trên ta có thể đưa ra khái niệm chung về DVNH như sau: DVNH là các dịch vụ tài chính gắn liền với hoạt động kinh doanh của ngân hàng, được ngân hàng thực hiện nhằm tìm kiếm lợi nhuận, và chỉ có các ngân hàng với ưu thế của nó mới có thể cung cấp các dịch vụ này một cách tốt nhất cho khách hàng.
Ưu thế DVNH của NHTM được thể hiện qua các điểm sau: - Hệ thống mạng lưới chi nhánh rộng khắp, không chỉ ở trong nước mà còn cả ở nước ngoài. - Có mối quan hệ với nhiều doanh nghiệp tổ chức kinh tế. Do đó, nắm bắt được tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của khách hàng một cách cụ thể sâu sắc, biết được những điểm mạnh và điểm yếu của từng khách hàng. - Có trang bị hệ thống thông tin hiện đại, đồng thời là nơi thu nhận và tập hợp nhiều thông tin hữu ích như giá cả, tỷ giá, giá vàng… 1.
Đặc điểm dịch vụ ngân hàng thương mại Nói một cách khái quát DVNH có những đặc điểm sau: • Thứ nhất, tính vô hình Về bản chất, dịch vụ không có tính hữu hình về mặt vật chất hay nói cách khác, dịch vụ là một hành động, sự thực hiện do vậy, người ta không thể nhìn thấy, sờ thấy hay nếm thử đối với dịch vụ trong khi hàng hóa là một vật thể, thiết bị, đồ đạc hữu hình. Đây chính là đặc điểm chính để phân biệt DVNH với các ngành sản xuất vật chất khác tuy nhiên điều này đã gây khó khăn trong việc đánh giá chất lượng dịch vụ. Tính vô hình của dịch vụ lại có nhiều cấp độ khác nhau thể hiện ở việc các loại hình dịch vụ khác nhau đều được hỗ trợ bởi những vật thể hữu hình khác nhau dựa vào đó ta có thể phán đoán được chất lượng dịch 6 vụ. Ví dụ để đánh giá dịch vụ thẻ của một ngân hàng người ta có thể dựa vào số lượng máy ATM của ngân hàng đó hoặc số lượng máy POS chấp nhận thẻ của ngân hàng để đưa ra nhận định về dịch vụ thẻ của ngân hàng này.
Đương nhiên, nếu chỉ dựa vào yếu tố duy nhất này thôi thì chưa đủ nhưng đó là một trong những cơ sở hữu hình để khách hàng nhận định về chất lượng dịch vụ của ngân hàng. Hay khi khách hàng đến gửi tiết kiệm tại NH họ không thể biết chắc chắn được số tiền của mình có an toàn hay không? Điều này cho thấy uy tín của ngân hàng cũng như chất lượng dịch vụ có vai trò như thế nào trong việc thu hút, tạo niềm tin nơi khách hàng. Hoạt động kinh doanh NH phải dựa trên cơ sở lòng tin, phải tạo được lòng tin đối với khách hàng khi sử dụng dịch vụ. Để khắc phục được điều này, ngân hàng đã và đang nâng cao chất lượng dịch vụ cung ứng, tăng tính hữu hình của dịch vụ, tăng cường quảng cáo hình ảnh của NH, tạo uy tín, tạo điều kiện để khách hàng tham gia vào hoạt động tuyên truyền cho NH.
• Thứ hai, tính không tách rời Khác với hàng hóa có đặc điểm sản xuất và tiêu dùng tách rời, quá trình cung cấp và tiêu dùng DVNH được diễn ra đồng thời, đặc biệt có sự tham gia trực tiếp của khách hàng vào quá trình cung ứng dịch vụ. Mỗi sản phẩm dịch vụ ngân hàng lại tuân theo một quy trình nhất định không thể tách rời, bỏ bớt như quy trình thẩm định, quy trình cho vay… Điều này làm cho DVNH không có tính dở dang, tính lưu trữ mà được cung cấp trực tiếp cho khách hàng khi khách hàng có nhu cầu sử dụng đồng thời thực hiện đầy đủ các quy trình này cũng hạn chế rủi ro cho hoạt động ngân hàng. Do đó quá trình hình thành sản phẩm dịch vụ sự hợp tác giữa người tiêu dùng và nhà cung cấp – ngân hàng. Các DVNH được bán rồi mới được sản xuất và tiêu dùng nghĩa là khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ rồi ngân hàng mới tiến hành thực hiện cung cấp dịch vụ.
Ví dụ như dịch vụ thẻ tại một ngân hàng: khách hàng đăng ký sử 7 dụng dịch vụ thẻ tức là ngân hàng thực hiện việc bán dịch vụ thẻ cho khách hàng rồi mới thực hiện làm thẻ và khách hàng mới sử dụng thẻ. • Thứ ba, tính không đồng nhất, tính khó xác định Chất lượng dịch vụ gắn liền với người cung cấp dịch vụ ở đây là ngân hàng mà cụ thể là mỗi cán bộ nhân viên ngân hàng. Trình độ, kỹ năng chuyên môn… của người thực hiện dịch vụ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ ngân hàng. Hơn nữa trong quá trình cung ứng dịch vụ, chất lượng dịch vụ đôi khi cũng thay đổi theo thời gian đối với cùng một cá nhân cung ứng dịch vụ.
Điều này dẫn đến hai hệ quả: Thứ nhất là về phía những nhà cung cấp dịch vụ đã nảy sinh vấn đề là làm thế nào để xử lý đối với sự không chuẩn hóa về chất lượng dịch vụ, còn về khách hàng - người mua là sự không hài lòng về sản phẩm họ mua được từ đó làm mất lòng tin vào nhà cung cấp dịch vụ. Đặc trưng về tính không tách rời trong sản xuất và tiêu dùng cũng làm cho các sản phẩm dịch vụ ngân hàng trở nên không ổn định về chất lượng từ đó dẫn đến việc khó xác định chất lượng dịch vụ. • Thứ tư, tính không lưu giữ được Do nhu cầu dịch vụ của khách hàng thường biến động thay đổi liên tục nên có thời điểm nhu cầu sử dụng tăng đột biến, có thời điểm lại giảm song các NH cũng không thể sản xuất sẵn rồi đem cất trữ để phục vụ cho những thời điểm tăng đột biến. Vì các sản phẩm dịch vụ ngân hàng mang tính vô hình.
Ví dụ, vào thời điểm cuối năm, nhu cầu về việc sử dụng dịch vụ thanh toán chuyển tiền là rất lớn nên các NH phải tăng cường phương tiện cũng như nguồn nhân lực để đảm bảo thực hiện các giao dịch hiệu quả nhất. Hay như tại thời điểm hiện nay, ngành ngân hàng cũng là một trong những ngành nghề bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh COVID-19 khi số lượng khách hàng đến giao dịch thanh toán, chuyển tiền giảm mạnh. Những điều này đã ảnh hưởng đến doanh thu của ngân hàng nên chi phí DVNH tương đối cao. 8 • Thứ năm, dòng thông tin hai chiều Việc sử dụng DVNH là một chuỗi các giao dịch hai chiều giữa người sử dụng và nhà cung cấp trong khoảng thời gian cụ thể.
Sự tương tác này cung cấp cho các ngân hàng những thông tin về khách hàng liên quan đến sở thích, yêu cầu của khách hàng… để từ đó ngân hàng có những điều chỉnh làm, mới các SPDV phù hợp với nhu cầu khách hàng. • Thứ sáu, tính đa dạng phong phú và không ngừng phát triển Hiện nay trên thế giới, dịch vụ ngân hàng có đến hàng nghìn sản phẩm khác nhau. Các ngân hàng đang cố gắng phát triển theo hướng kinh doanh đa năng, đa dạng hóa các hình thức cung cấp chứ không chỉ đơn thuần thực hiện những nghiệp vụ truyền thống như trước kia. Ngoài ra với sự phát triển của công nghệ thông tin hiện nay, nhiều DVNH ra đời và phát triển với sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ, phần mềm, không chỉ có các dịch vụ hiện đại được hỗ trợ công nghệ mới mà các dịch vụ truyền thống cũng đang được cải tiến với hàm lượng công nghệ thông tin cao.
Ngoài ra, DVNH còn một số đặc điểm sau: •Tính dễ sao chép và bắt chước •Tính an toàn và bảo mật cao •Tính liên hoàn dịch vụ Nếu như các doanh nghiệp khác sản xuất ra hàng hóa hữu hình (máy móc thiết bị, bàn ghế, vật dụng hàng ngày…) thì các Ngân hàng thương mại sản xuất ra các hàng hóa vô hình, hay đúng hơn là các loại dịch vụ. Các sản phẩm của ngân hàng có đặc tính vô hình, luôn bị động và phụ thuộc khách hàng. Điều này gây khó khăn trong việc đánh giá chất lượng sản phẩm dịch vụ khi ngân hàng phải xử lý các yêu cầu theo mong muốn của khách hàng. Chất lượng sản phẩm dịch vụ ngân hàng thể hiện ở khả năng hoàn thành yêu cầu của khách hàng với thời gian ngắn nhất, chính xác, an toàn và tiện lợi, đặc biệt là ngành nghề kinh doanh tiền tệ như ngân hàng.