Chương 1 sẽ trình bày cơ sở lý luận về NNL và chất lượng NNL trong doanh nghiệp. Đây là cơ sở khoa học về lý thuyết để nghiên cứu, đánh giá thực trạng chất lượng NNL của Công ty trong thời gian qua, thông qua đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng NNL trong doanh nghiệp trong thời gian tới. Khái niệm nguồn nhân lực Trƣớc đây, nghiên cứu về nguồn lực con ngƣời thƣờng nhấn mạnh đến chất lƣợng và vai trò trong phát triển kinh tế xã hội. Trong lý thuyết về tăng trƣởng kinh tế, con ngƣời đƣợc coi là một phƣơng tiện hữu hiệu cho việc đảm bảo tốc độ tăng trƣởng kinh tế bền vững thậm chí con ngƣời đƣợc coi là nguồn vốn đặc biệt cho sự phát triển – vốn nhân lực.
Từ thập niên 80 của thế kỷ XX với sự thay đổi căn bản về phƣơng thức quản lý hiện đại, lấy con ngƣời làm trung tâm thì thuật ngữ “nguồn nhân lực” bắt đầu đƣợc sử dụng rộng rãi, với ý nghĩa là nguồn lực con ngƣời, thể hiện một sự nhìn nhận lại vai trò yếu tố con ngƣời trong quá trình phát triển. Nội hàm NNL không chỉ bao hàm những ngƣời trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, cũng không chỉ bao hàm về mặt chất lƣợng mà còn chứa đựng hàm ý rộng hơn. Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về NNL. Theo Liên Hợp Quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước” [15].
Ngân hàng thế giới (WB) cho rằng: NNL là toàn bộ vốn con ngƣời bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân. Nhƣ vậy, nguồn lực con ngƣời đƣợc coi nhƣ một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác là vồn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Tuy nhiên, sự tham gia của nguồn vốn này trong quá trình sản xuất lại không giống nhƣ vốn bằng tiền, vốn công nghệ, tài Luan van 7 nguyên. Nguồn vốn đặc biệt này đƣợc đặt bên cạnh các loại vốn kia nhƣng để khai thác, duy trì và sử dụng các loại vốn vật chất đó.
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì NNL của một quốc gia là toàn bộ những ngƣời trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. Khái niệm này chỉ ra quy mô và tiềm lực của một quốc gia và đánh giá về khả năng tham gia hoạt động kinh tế để tạo ra tài sản cho xã hội của NNL trong quá trình sinh sống và xây dựng đất nƣớc. Theo giáo trình nguồn nhân lực của trƣờng Đại học Lao động - Xã hội do PGS. Nguyễn Tiệp chủ biên: Đứng theo góc độ vĩ mô, NNL của một quốc gia thì NNL đƣợc hiểu với tƣ cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội thì “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động” [14] “Nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động” [14].
Khái niệm này chỉ khả năng đảm đƣơng lao động chính của xã hội. Theo giáo trình kinh tế NNL của trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân do PGS. Trần Xuân Cầu, PGS. Mai Quốc Chánh chủ biên: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” [2].
Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội cho rằng: “Nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định của một quốc gia, suy rộng ra có thể được xác định trên một địa phương, một ngành hay một vùng. Đây là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế xã hội” [1]. Từ các quan niệm trên, NNL đƣợc hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, cung cấp nguồn lực cho sự phát triển. Do đó, NNL bao gồm toàn bộ dân cƣ có thể phát triển bình thƣờng.
Theo nghĩa hẹp thì NNL là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cƣ trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao Luan van 8 động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực và tâm lực của họ đƣợc huy động vào quá trình lao động. Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực Theo tổ chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO) định nghĩa “chất lượng là toàn bộ những tính năng và đặc điểm của một sản phẩm hoặc một dịch vụ thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra và tiềm ẩn; người tạo nên chất lượng của sản phẩm, dịch vụ đó, xét trong phạm vi hẹp một tổ chức thì là tất cả lực lượng lao động của tổ chức đó”. Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh: “Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của Nguồn nhân lực” [2]. Theo quan điểm của TS.
Phan Thanh Tâm thì chất lƣợng nguồn nhân lực đƣợc định nghĩa: “Chất lượng nguồn nhân lực là tổng hòa của cả 3 yếu tố: Trí lực, thể lực và phẩm chất của người lao động” [12]. Từ những quan điểm trên, có thể hiểu khái niệm chất lƣợng NNL nhƣ sau: Chất lƣợng NNL là trạng thái nhất định của NNL thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của NNL, phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng nhƣ mức sống, trình độ dân trí. Chất lƣợng NNL là toàn bộ những phẩm chất đạo đức, thể chất, thẩm mỹ và năng lực của con ngƣời có ảnh hƣởng quyết định đến việc hoàn thành những mục tiêu hiện tại và tƣơng lai của mỗi tổ chức. Hay nói một cách khác “Chất lượng nguồn nhân lực là tổng thể các yếu cấu thành năng lực bao gồm: thể lực, trí lực và tâm lực (phẩm chất) của lực lượng lao động”.
Trong đó: - Thể lực: Là trạng thái sức khỏe của NLĐ, thể hiện ở sự phát triển sinh học, đủ sức khỏe để tham gia lao động, học tập và làm việc lâu dài. - Trí lực: Là năng lực trí tuệ, là học vấn chuyên môn kỹ thuật, là kỹ năng nghiệp vụ tay nghề. Nó có tính chất quyết định lớn đến khả năng sáng tạo của NLĐ. - Tâm lực (phẩm chất): Là sự phản ánh thể hiện tính cách, tâm lý, sự giác ngộ, ý thức, các giá trị văn hóa đƣợc kết tinh trong NLĐ tạo nên những giá trị cơ bản của nhân cách chất lƣợng lao động và biểu hiện ra ở ý thức lao động, thái độ lao động.
Tiêu chí đánh giá chất lƣợng nguồn nhân lực 1. Thể lực nguồn nhân lực - Về sức khỏe thể chất Theo định nghĩa về sức khoẻ của Tổ chức Sức Khoẻ Thế Giới (WHO): “Sức khoẻ là một tình trạng hoàn toàn thoải mái cả về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không phải là chỉ là không có bệnh hay thương tật”. Nhƣ vậy, sức khỏe bao gồm: sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần. Nâng cao sức khỏe cơ thể là tăng sự cƣờng tráng, khả năng mang vác, sức lao động chân tay.
Nâng cao sức khỏe tinh thần là tăng sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, tăng khả năng vận động của trí tuệ, biến tƣ duy thành hành động. Sức khỏe NLĐ chịu ảnh hƣởng của nhiều yếu tố nhƣ tự nhiên, xã hội, kinh tế… và đƣợc phản ánh thông qua các chỉ tiêu có thể đo lƣờng nhƣ tăng về: chiều cao, cân nặng, ngoại hình, sức bền, độ dẻo dai, khả năng mang vác vật nặng, tình trạng bệnh tật,… - Về thẩm mỹ “Thẩm mỹ” là khả năng cảm nhận cái hay, cái đẹp. Thẩm mỹ là một yếu tố cơ bản của chất lƣợng nguồn nhân lực, thẩm mỹ định hƣớng việc bồi dƣỡng nhu cầu, khát vọng của con ngƣời theo tiêu chuẩn “Chân, thiện, mỹ”. Thẩm mỹ trực tiếp thúc đẩy tâm lý, làm tăng năng suất lao động, tham gia nâng cao chất lƣợng sản phẩm.
Tuy nhiên, vai trò chủ yếu của nó vẫn là làm giàu có cho đời sống tinh thần của con ngƣời. Vai trò của những thƣớc đo thẩm mỹ trong đời sống tinh thần cũng tƣơng tự nhƣ vai trò của những thƣớc do đạo đức trong đời sống xã hội. Nâng cao thẩm mỹ nguồn lao động đúng đắn có tác động thúc đẩy sự phát triển trí tuệ NLĐ ở trình độ cao hơn, đặc biệt nó có giá trị định hƣớng cho các hoạt động trí tuệ, cho việc sử dụng các thành tựu của trí tuệ, của khoa học vào những mục đích nhân văn, tiến bộ xã hội vì cuộc sống hạnh phúc của con ngƣời. Tiêu chuẩn trƣớc tiên của thẩm mỹ của NLĐ là thẩm mỹ về con ngƣời, ở thời kỳ hiện đại chính là khả năng hợp tác.
Thẩm mỹ nguồn lao động là làm cho Luan van 10 NLĐ khâm phục, sống đƣợc với tất cả mọi ngƣời. Những ai có ích cho tất cả mọi ngƣời, đó là những ngƣời đẹp nhất. Tiếp đó là năng lực tiếp nhận. Chúng ta thƣờng nói ngƣời này thông minh, ngƣời kia sáng dạ.
Đấy chính là một vẻ đẹp, vẻ đẹp của năng lực tiếp nhận cởi mở. Tiêu chuẩn thứ ba của vẻ đẹp con ngƣời hiện đại là sự hài hoà giữa đời sống tâm hồn và đời sống vật chất. Nói đến vẻ đẹp của con ngƣời thì không phải là nói về một sự nghiệp, mà trƣớc hết là nói đến tiêu chuẩn đời sống hàng ngày. Cuối cùng, một con ngƣời muốn đẹp thì phải là con ngƣời có giáo dục, trong sự giáo dục đó có giáo dục về cái đẹp.
Giáo dục góp phần nâng cao khiếu thẩm mỹ của con ngƣời, giúp họ có khả năng nhận ra cái đẹp và sau đó là khả năng làm mình đẹp lên. Đánh giá sức khỏe thể chất của NLĐ không chỉ dựa trên những tiêu chí nhƣ chiều cao, cân nặng mà còn dựa vào những tiêu chí khác nhƣ tình trạng nghỉ ốm, nghỉ thai sản, nghỉ làm do tai nạn lao động hay tỷ lệ mắc bệnh nghề nghiệp… của NLĐ trong kỳ. Để lƣợng hóa đƣợc tiêu chí này trong công tác đánh giá chất lƣợng NNL, có thể tiến hành phƣơng pháp thống kê, phƣơng pháp so sánh và phân tích những biểu hiện của các chỉ tiêu đo lƣờng sức khỏe thể chất trên. Trí lực nguồn nhân lực Trí lực của nguồn nhân lực đƣợc cấu thành bởi các yếu tố sau: - Về kiến thức Kiến thức là tổng thể tri thức, hiểu biết mà một ngƣời lĩnh hội, tích lũy qua trải nghiệm hoặc học hỏi.