đặt vấn đề các yếu tố NNL trong tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế nói chung, hệ thống Dự trữ quốc gia nói riêng trong giai đoạn hiện nay, các quan điểm và định hướng đều tập trung vào giải pháp công nghệ. Điều này hoàn toàn không sai, bởi phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới. Thực tế cho thấy, sự khai thác và sử dụng tốt yếu tố nguồn nhân lực đã tạo thế mạnh cho tổ chức, cơ quan, đơn vị từ đó trở thành bài học kinh nghiệm trong phát triển các nhân tố Dự trữ quốc gia của nước ta hiện nay. Có thể thấy được tầm quan trọng trong việc tuyển dụng NNL thông qua bởi yếu tố sau đây: Yếu tố con người - yếu tố quyết định sự tăng trưởng ổn định và bền vững đối với mỗi Cục Dự trữ Nhà nước khu vực, cũng như toàn bộ hệ thống ngành Dự trữ quốc gia.
Trong thời đại ngày nay, nguồn nhân lực tại Cục Dự trữ Nhà nước được đào tạo chuyên sâu về cả kiến thức lẫn đạo đức nghề nghiệp, lãnh đạo chủ chốt có tố chất cũng như trình độ quản lý nên đáp ứng được nhu cầu thực tế hiện nay. Ngoài ra, khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực cũng tạo ra sự khác biệt trong công việc đạt hiệu quả cao. Nguồn nhân lực năng động, khả năng sáng tạo, cống hiến hết mình cho đơn vị công tác, yêu ngành yêu nghề nên mang lại lợi ích rất lớn, tạo ra khả hiệu quả công tác tốt. Bên cạnh đó, việc sử dụng hiệu quả yếu tố NNL còn cho phép Cục Dự trữ Nhà nước cắt giảm tối đa các chi phí như chi phí đầu vào, chi phí quản lý, nâng 14 cao năng suất lao động., từ đó trực tiếp nâng cao hiệu quả công tác chuyên môn nghiệp vụ, cũng như hiệu quả quản trị công tác điều hành.
Cùng với các nguồn lực khác (vốn, công nghệ, thông tin,.) nguồn nhân lực sẽ quyết định và tạo nên sự khác biệt giữa các ngành nghề, trong các Cục Dự trữ Nhà nước khu vực còn gắn chặt với yếu tố con người, chính nguồn nhân lực đã tạo ra tên tuổi tính chất đặc thù của ngành Dự trữ quốc gia và trên hết, đó là yếu tố quan trọng để nhận được sự tin cậy, tín nhiệm từ các doanh nghiệp, nhân dân. Tất cả những nội dung trên về bản chất đều thuộc yếu tố nguồn nhân lực và do con người quyết định. Bởi vậy, khai thác và sử dụng hiệu quả yếu tố này không chỉ quyết định sự thành công của Cục Dự trữ Nhà nước khu vực, mà còn quyết định sự tăng trưởng và phát triển bền vững của toàn Cục Dự trữ Nhà nước trong tương lai. Chất lượng nguồn nhân lực hay vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao trong ngành Dự trữ quốc gia là lực lượng thực hiện vai trò tiên phong trong quá trình xây dựng, phát triển cũng như quá trình hoạt động của ngành Dự trữ quốc gia.
Vai trò tiên phong thể hiện ở tính luôn đi đầu, luôn định hướng và luôn thúc đẩy mọi yếu tố để xây dựng thành công trong hoạt động của ngành Dự trữ quốc gia. Vai trò tiên phong của chất lượng nhân lực không chỉ dừng lại ở việc nắm bắt và định hướng, mà còn ở việc thúc đẩy các yếu tố để hiện thực hóa quá trình hoạt động, phát triển. Các yếu tố đó chính là việc ứng dụng và triển khai trí thức hiện đại để thực hiện quá trình thay đổi môi trường kinh tế - văn hóa - xã hội, tạo thuận lợi nhất cho việc học hỏi, đổi mới, sáng tạo. Sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao trong các Cục Dự trữ Nhà nước khu vực giúp tiết kiệm nguồn NNL của tổ chức với tư cách là một nguồn lực thông qua việc thực hiện một cách có hiệu quả và khoa học tất cả các khâu: tuyển dụng, đào tạo phát triển, sắp xếp, quản lý sử dụng hợp lý nguồn nhân lực; xác định chính xác nhu cầu lao động, nguồn lao động để từ đó có giải pháp tối ưu đáp ứng kịp thời.
Nguồn nhân lực có 15 chất lượng cao tạo điều kiện cho phát triển kỹ thuật, nâng cao hiệu suất lao động, xây dựng những tố chất lao động mới thích nghi với sự biến đổi không ngừng của môi trường đảm bảo cho toàn ngành Dự trữ phát triển liên tục và bền vững. CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC. Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực Quan niệm chung nhất về “chất lượng” là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một người, một sự vật, sự việc. Nói đến chất lượng là nói đến hai vấn đề cơ bản: Thứ nhất, đó là tổng hợp những phẩm chất, giá trị, những đặc tính tạo nên cái bản chất của một con người, một sự vật, sự việc; Thứ hai, những phẩm chất, những đặc tính, những giá trị đó đáp ứng đến đâu những yêu cầu đã được xác định về con người, sự vật, sự việc đó ở một thời gian và không gian xác định.
Tuy nhiên, những điều này có tính ổn định tương đối, thay đổi do tác động của những điều kiện chủ quan và khách quan. Vì thế, nói đến chất lượng của một con người là nói đến mức độ đạt được của một người ở một thời gian và không gian được xác định cụ thể, đó là các mức độ tốt hay xấu, cao hay thấp, ngang tầm hay dưới tầm, vượt tầm, đạt hay không đạt yêu cầu đặt ra. Tổng hợp những phẩm chất, những giá trị, những thuộc tính đặc trưng, bản chất của một con người và các mặt hoạt động của con người đó, chính là chất lượng con người đó. Khi phân tích, đánh giá chất lượng của bất kỳ sự vật, hiện tượng, quá trình nào đang diễn ra trong tự nhiên, xã hội hay trong tư duy phải phân tích, đánh giá chất lượng của từng yếu tố, từng bộ phận cấu thành sự vật, hiện tượng và quá trình ấy trong thống nhất, biện chứng, trong sự ràng buộc và tác động lẫn nhau giữa chúng; không được tuyệt đối hoá một yếu tố, bộ phận nào hoặc tách rời giữa các yếu tố, các bộ phận.
Quá trình đó đòi hỏi phải có phương pháp xem xét, đánh giá cụ 16 thể, không thể áp dụng phương pháp duy nhất, đặc biệt là đối với con người và hoạt động của con người trong xã hội. Dựa trên các quan điểm khác nhau về chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực có thể được hiểu như sau: Chất lượng nguồn nhân lực là toàn bộ những phẩm chất đạo đức, thẩm mỹ và năng lực của mỗi con người có ảnh hưởng quyết định tới việc hoàn thành những mục tiêu hiện tại và tương lai của mỗi tổ chức. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính nhà nước là một trong những tiêu chí phản ánh trình độ quản lý kinh tế - xã hội của một quốc gia, phụ thuộc vào chất lượng của từng thành viên cán bộ, công chức trong đội ngũ đó, nó thể hiện ở trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, sự hiểu biết về chính trị - xã hội, phẩm chất đạo đức, khả năng thích nghi với hoàn cảnh kinh tế - xã hội, … Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính nhà nước được đánh giá cao hay thấp cần phải được so sánh với tiêu chuẩn thực hiện công việc mà họ đảm nhận và mức độ thực tế kết quả thực hiện nhiệm cụ công việc đó. Qua đó có thể khái quát khái niệm về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính nhà nước như sau: Chất lượng cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính nhà nước là tổng hòa của các yếu tố: thể lực (sức khỏe, độ tuổi); trí lực (kiến thức, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ); tâm lực (phẩm chất chính trị, thái độ, kỷ luật…) của đội ngũ cán bộ, công chức, thể hiện qua quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ nhằm đạt được mục tiêu phát triển bản thân cũng như mục tiêu hoạt động chung của cơ quan hành chính nhà nước.
Theo đó, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức có tính ổn định tương đối, có thể cao hoặc thấp do tác động của những điều kiện khách quan và chủ quan, không bất biến, thường xuyên vận động, biến đổi, phát triển theo yêu cầu, 17 nhiệm vụ; chịu sự tác động mạnh mẽ của thực tiễn và phụ thuộc vào quá trình bồi dưỡng, rèn luyện, phấn đấu của mỗi người cán bộ. Bên cạnh những yếu tố bên ngoài tác động đến chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính nhà nước và bản thân họ thì cơ quan hành chính nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc kiến tạo, bồi dưỡng và nâng cao các yếu tố cấu thành nên chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức. Điều này được thực hiện từ khâu xác định tiêu chuẩn, chức danh để tuyển dụng, bổ nhiệm đến bố trí công tác, sử dụng, đào tạo, phát triển cũng như những hoạt động tạo động lực làm việc cho đội ngũ cán bộ, công chức. Các yếu tố cấu thành chất lượng nguồn nhân lực Chất lượng Nguồn nhân lực được biểu hiện ở thể lực, trí lực (trình độ văn hoá, chuyên môn kỹ thuật) và tinh thần thái độ, động cơ, ý thức lao động, văn hoá lao động công nghiệp.
Trong ba mặt: thể lực, trí lực, tinh thần thì thể lực là nền tảng, cơ sở để phát triển trí lực, là phương thức để chuyển tải khoa học kỹ thuật vào thực tiễn. Ý thức tinh thần đạo đức, tác phong là yếu tố chi phối hiệu quả hoạt động chuyển hoá của trí lực thành thực tiễn. Trí tuệ là yếu tố có vai trò quan trọng hàng đầu bởi nó có con người mới có thể nghiên cứu sáng tạo và ứng dụng tiến bộ khoa học vào quá trình hoạt động sản xuất và cải biến xã hội. Có thể cụ thể hoá các yếu tố cấu thành chất lượng Nguồn nhân lực theo các nhóm sau đây: Thứ nhất, Thể lực của con người chịu ảnh hưởng của mức sống vật chất, sự chăm sóc sức khỏe và rèn luyện của từng cá nhân cụ thể.
Một cơ thể khỏe mạnh, thích nghi với môi trường sống thì năng lượng do nó sinh ra sẽ đáp ứng yêu cầu của một hoạt động cụ thể nào đó. Phải có thể lực con người mới có thể phát triển trí tuệ và quan hệ của mình trong xã hội. Sức khỏe là sự phát triển hài hòa của con người cả về thể chất và tinh thần. Sức khỏe cơ thể là sự cường tráng, năng lực lao động chân tay.