Chương 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Chượng 2: Thực trạng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần giải pháp nguồn nhân lực quốc tế Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Công ty cổ phần giải pháp nguồn nhân lực quốc tế. Luan van 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Trước hết nguồn nhân lực cũng chính là con người.
Chủ nghĩa Mác quan điểm rằng con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, cho rằng lao động đóng vai trò quyết định trong việc phân chia ranh giới giữa con người và động vật. Theo (Human Resource) nguồn nhân lực là nguồn lực con người, là yếu tố cấu thành quan trọng của lực lượng sản xuất xã hội, quyết định sức mạnh của một quốc gia, một ngành kinh tế hoặc một địa phương. Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực. Theo quy định của Tổng cục Thống kê nguồn nhân lực bao gồm những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm (lao động đang làm việc) và những người trong độ tuổi lao động nhưng đang ở trong các tình trạng sau đây: đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ trong gia đình mình; không có nhu cầu làm việc; những người thuộc tình trạng khác chưa tham gia lao động [9, tr.
Theo cơ quan phát triển của Liên hiệp quốc UNDP: “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ với sự phát triển của mỗi các nhân và của đất nước”. Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO), nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển; theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế- xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia các quá trình lao động sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân có thể tham gia quá trình lao động. Luan van 10 Nguồn nhân lực là nguồn lực con người.
Nguồn nhân lực đó được xem xét ở hai khía cạnh. Trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực. Nguồn nhân lực nằm ngay trong bản thân con người, đó cũng là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác. Thứ hai, nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể nguồn lực của từng cá nhân con người.
Với tư cách là một nguồn lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thởi điểm nhất định. Như vậy, xem xét dưới các góc độ khác nhau có thể có những khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực nhưng những khái niệm này đều thống nhất các nội dung cơ bản sau: Nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Con người với tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển, không thể chỉ được xem xét đơn thuần ở góc độ số lượng hay chất lượng mà là sự tổng hợp của cả số lượng và chất lượng; không chỉ là bộ phân dân số trong độ tuổi lao động mà các thế hệ con người với những tiềm năng sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội. Với tư cách là tiềm năng lao động của mỗi vùng, miền hay quốc gia thì nguồn nhân lực là tài nguyên cơ bản nhất.
Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp “Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương” [9, tr. Trong mỗi doanh nghiệp, nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực quyết định đối với sự phát triển cả về trước mắt lẫn lâu dài của doanh nghiệp, đối với sự tăng trưởng kinh tế- xã hội của quốc gia. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là việc tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững về hiệu năng của mỗi người lao động và hiệu quả chung của doanh nghiêp, gắn liền với thực hiện tốt các chức năng và công cụ quản lý nhằm được một đội ngũ Luan van 11 lao động phù hợp về mặt số lượng và có chất lượng cao, thông qua hoạt động của họ mà không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất, là động lực cơ bản cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Từ các khái niệm trên, theo tác giả Luận văn: NNL trong tổ chức là toàn bộ những người đang làm việc trong tổ chức đó, hay những người bên ngoài được tổ chức huy động mang tính ổn định lâu dài, tham gia giả quyết các nhiệm vụ và công việc mà tổ chức phân công, được tổ chức trả công theo thỏa thuận.
Từ khái niệm trên có thể rút ra một số đặc điểm của NNL trong tổ chức như sau: - NNL trong tổ chức là tất cả những người có tham gia vào các hoạt động của tổ chức đó; NNL trong tổ chức có thể là những người đang thuộc biên chế, trong danh sách quản lý của tổ chức hay những người mà tổ chức đó có thể huy động trong một thời điểm nhất định nào đó mang tính ổn định, lâu dài (các cộng tác viên, lao động được thuê khoán theo công việc, được sử dụng theo mùa vụ, ngắn hạn, những người làm việc bán thời gian, những người thân của tổ chức làm việc hưởng lương hay không hưởng lương. Với nghĩa này, NNL không yêu cầu trong độ tuổi lao động, miễn là có khả năng lao động và có thể đóng góp sức lao động vào hoàn thành mục tiêu của tổ chức. - Mối quan hệ lao động cũng có những điểm khác so với lao động cố đinh, biên chế tùy theo thỏa thuận ghi trong hợp đồng nhất là hợp đồng ngắn hạn, mùa vụ, làm khán theo công việc, bán thời gian…và do đó, xét ở góc độ nào đó quản lý NNL này cũng sẽ khó khăn và phức tạp hơn. Tóm lại: NNL trong DN là bao gồm tất cả nguồn lực của các cá nhân trong tổ chức hay những cá nhân có tham gia bất cứ hoạt động nào, với bất cứ vai trò gì trong tổ chức, DN, bao gốm tất cả các thành viên mà DN đang quản lý, sử dụng mang tính ổn định và lâu dài, kể cả những người trong và ngoài doanh nghiệp nhưng có tham gia vào hoạt động hay tham gia giải quyết những vấn đề của DN trong điều kiện, hoàn cảnh nhất định.
Chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1. Chất lượng nguồn nhân lực “Chất lượng là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc)… làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác” [30]. “Chất lượng là cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật hoặc là cái nền bản chất của sự vật, làm cho sự vật này khác với sự vật kia” [31]. Với góc độ hàng hóa, dịch vụ thì: “Chất lượng là khả năng thỏa mãn nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất” [12, tr.
Nói cách khác, “chất lượng là sự thỏa mãn nhu cầu nhất định về các thuộc tính bản chất của sự vật so với yêu cầu đặt ra”. Nó không phải là đại lượng bất biến, mà tùy theo yêu cầu đặt ra của người sử dụng thay đổi như thế nào trong từng thời điểm nhất định. Chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Theo tác giả Trần Khánh Đức: “NNL là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực. Đó là các yếu tố phản ánh trình độ, kiến thức, kỹ năng và thái độ của người lao động trong quá trình làm việc” [16].
Chất lượng NNL có thể được xem xét dưới góc độ của NNL tổng thể (của DN) và NNL cá nhân (khả năng, năng lực từng cá nhân). + Chất lượng nguồn nhân lực cá nhân: Hay khả năng của các cá nhân đáp ứng được các yêu cầu đề ra trên phương diện nhân lực (thể lực- trí lực, tâm lực, hợp lý hóa cơ cấu). Nói cách khác là năng lực của cá nhân thể hiện trên các khía cạnh: trí lực (trình độ văn hoá, chuyên môn, kỹ thuật), thể lực (sức khoẻ, điều kiện để chăm sóc sức khoẻ,.), tâm lực (phẩm chất đạo đức, tác phong làm việc, sinh hoạt của người lao động)… + Chất lượng NNL trong tổ chức phản ánh mối quan hệ tương tác hữu cơ, sự kết hợp các sức mạnh tập thể của các cá nhân trong mối quan hệ để tạo nên sức mạnh tập thể đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của tổ chức đặt ra. Chất lượng nguồn nhân lực trong tổ chức phản ánh sự tương thích và mức độ đáp ứng, trước hết, về số lượng nhân lực bảo đảm tương thích với khối lượng Luan van 13 công việc hay giữa “lượng người- lượng việc”; thứ hai, bảo đảm tương thích giữa chất lượng nhân lực với chất lượng, yêu cầu công việc hay phải “đúng người, đúng việc”; Thứ ba, cơ cấu lao động được bố trí một cách hợp lý giữa các bộ phận trong doanh nghiệp, các đơn vị sản xuất kinh doanh để đảm bảo nhịp độ trong mọi hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ phân công.
Từ những khái niệm trên, trong phạm vi khuôn khổ đề tài luận văn, theo quan điểm tác giả: Chất lượng NNL trong doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ năng lực của lực lượng lao động của doanh nghiệp đó được biểu hiên thông qua ba mặt: thể lực, trí lực, tâm lực, hợp lý hóa cơ cấu. Các mặt này có quan hệ chặt chẽ với nhau cấu thành chất lượng nguồn nhân lực doanh nghiệp. Trong đó, thể lực là nền tảng, là phương tiện để truyền tải tri thức, trí tuệ là yếu tố quyết định chất lượng nguồn nhân lực, ý thức tác phong làm việc là yếu tố chi phối hoạt động chuyển hóa của thể lực trí tuệ thành thực tiễn”.