Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ NÂNG CAO CHÁT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC 1. Các khái niệm cơ bản 1. Cán bộ Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bố nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tô chức chính tri — x4 hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phó thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [28, tr. Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bố nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [28, tr.
Theo Luật Cán bộ công chức của Lào thì cán bộ là công dân Lào. Thông qua hình thức đó là bầu cử, hay phê chuẩn, hay qua hình thức bổ nhiệm để giữ một chức danh, chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng, Nhà nước Lào, hoặc tổ chức chính tri — xã hội ở các cấp trung ương, cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, cũng như cấp huyện, quận, thị xã và thành phố thuộc tỉnh. Là đối tượng thuộc trong biên chế của Nhà nước và hưởng lương từ quỹ lương của ngân sách Nhà nước. Một vấn đề cần lưu ý về đội ngũ cán bộ mà chúng ta thường xuyên tiếp xúc đó là cán bộ ở cấp xã, phường, thị trấn.
Đây là đội ngũ được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ tại hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, bi thư, phó bí thư Đảng ủy, hay người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; những người này phải là công đân Việt Nam đã được tuyển dụng theo tiêu chuẩn của pháp luật để giữ một chức danh nhất định về chuyên môn 9 họ đăng ký ứng tuyển và xắp xếp của cơ quan có thâm quyền. Cán bộ cấp xã là đội ngũ trong biên chế nhà nước và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước đúng theo cấp bậc lương ứng với vị ví phụ trách. Khi thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải xem xét về các tiêu chuẩn, chức danh, chức vụ, cũng như các yêu cầu nhiệm vụ đảm bảo phù hợp với quy hoạch cán bộ theo đúng nhu cầu. Cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Lào, Ủy ban thường vụ Quốc hội cũng như Chính phủ sẽ quy định chỉ tiết về các chế độ trong việc đào tạo, bồi đưỡng cán bộ.
Việc luân chuyển, điều động cán bộ sẽ được căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ hoặc trong kế hoạch quy hoạch và thực hiện trong khối cơ quan của Đảng Cộng sản Lào, Nhà nước Lào cũng như các tổ chức chính trị — xã hội [28. Như vậy dưới chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng và Nhà nước lãnh đạo thì bộ máy cán bộ, công chức, viên chức là bộ phận giúp việc không thể thiếu của Nhà nước ta. Trực tiếp trong việc quản lý cũng như đảm bảo được mọi hoạt động của Nhà nước được thực hiện một cách chính xác, thống nhất từ cấp trung ương xuống đến địa phương. Công chức cấp huyện Ở Việt Nam, khái niệm công chức cũng đã được quan tâm xây dựng và ngày càng hoàn thiện.
Ngày 20/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh 76/SL về "Quy chế công chức", đây được xem là văn bản pháp luật đầu tiên có liên quan trực tiếp đến khái niệm này. Quy chế xác định rõ nghĩa vụ, quyền lợi của công chức, cùng các thể lệ về việc tổ chức, quản trị và sử dụng các ngạch công chức trong toàn quốc, theo đó "những công đân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức" (Trích Điều 1, Sắc lệnh số 76/SL ngày 20 tháng 5 năm 1950) [7, tr. Cùng với sự phát triển của đất nước và nền hành chính nước nhà, khái niệm công chức đã dần được quy định cụ thể hơn, chỉ tiết hơn. 10 Tuy nhiên, các khái niệm này vẫn chưa phân định rõ ràng ai là cán bộ, ai là công chức.
Đến năm 2008, Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam đã thông qua Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12. Đây là bước tiến mới, mang tính cách mạng về cải cách chế độ công vụ, công chức, thể chế hoá quan điểm, đường lỗi của Đảng về công tác cán bộ, đáp ứng yêu cầu xây đựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Điều 4, Khoản 2 Luật Cán bộ, công chức năm 2008, xác định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tô chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, thuộc đơn vị Quân đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng cộng sản Việt nam, Nhà nước, tổ chức Chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị công lập) trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [28, tr. Hiện nay tại Lào điểm mới quan trọng nhất trong Luật cán bộ, công chức của Lào là đổi mới chế độ công vụ mà trước hết là Luật này đã phân định rõ đối tượng cán bộ và công chức, tách biệt với đối tượng làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập sẽ do bộ luật khác quy định (Luật Viên chức đã có hiệu lực năm 2018), trừ một số vị trí quản lý trong các đơn vị sự nghiệp công lập vẫn là công chức.
Chính điều này đã làm cho hoạt động công vụ tránh được những chồng chéo, vướng mắc trong cách giải quyết, giúp cho công chức định vị rõ phạm vi hoạt động, vị trí của mình trong công việc. Cán bộ công chức Lào, công chức hành chính Nhà nước nói chung, vả đội ngũ công chức hành chính Nhà nước cấp huyện nói riêng, được hình thành và phát triển gắn liền với quá trình cách mạng nước ta, qua các thời kỳ 11 khác nhau. Ngoài những đặc điểm chung, do đặc thù nghề nghiệp, lĩnh vực công tác, đội ngũ công chức cấp huyện còn có một số đặc điểm riêng như sau: - Đội ngũ công chức hành chính Nhà nước Lào là một bộ phận nguồn nhân lực quan trọng trong hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Lào lãnh đạo. Hệ thống chính trị ở Lào bao gồm tô chức Đảng, tô chức chính trị xã hội, các doan thé quan chúng; hệ thống hành chính nhà nước và lực lượng vũ trang.
Theo quy định hiện hành, những người đang làm việc trong hệ thống chính trị đều được coi là cán bộ, công chức nhà nước, những người đang làm việc thuộc khối nhà nước là công chức hành chính Nhà nước (làm công tác quản lý Nhà nước); - Ở Lào có sự luân chuyến bố trí cán bộ, công chức giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị. Chẳng hạn như cán bộ làm trong tô chức của Đảng có thể luân chuyền sang làm việc trong cơ quan quản lý Nhà nước và ngược lại. Do đặc thù của lĩnh vực quản lý nhà nước là đa ngành, đa lĩnh vực, nên công chức hành chính Nhà nước ở mỗi ngành, mỗi lĩnh vực có đặc thù quản lý khác nhau. Điều đó được thể hiện qua một số đặc điểm của lao động công chức hành chính Nhà nước như sau: - Do tính chất lao động trí tuệ phức tạp theo từng loại của hệ thống bao gồm: + Công chức lãnh đạo, quản lý là những người thực hiện chức năng quản lý, điều hành công việc của những công chức dưới quyền; + Công chức chuyên môn, nghiệp vụ là những người thực hiện một công việc đòi hỏi có sự hiểu biết trong lĩnh vực chuyên môn mà người công chức đó được phân công; + Công chức phục vụ (công chức thừa hành) là những người làm công tác chuẩn bị, thu thập tài liệu phục vụ cho lãnh đạo ra quyết định quản lý (như thư ký, nhân viên đánh máy, văn thư.
- Tính chất ngạch công chức bao gồm: 12 + Chuyên viên là công chức chuyên môn nghiệp vụ trong hệ thống quản lý Nhà nước tổ chức quản lý một lĩnh vực hoặc một vấn đề nghiệp vụ được phân công; + Chuyên viên chính là công chức chuyên môn nghiệp vụ trong hệ thống quản lý Nhà nước giúp lãnh đạo chỉ đạo quản lý một lĩnh vực nghiệp vụ; + Chuyên viên cao cấp là công chức chuyên môn nghiệp vụ cao nhất của ngạch trong hệ thống quản lý Nhà nước, giúp lãnh đạo ngành (ở cấp vụ đối với lĩnh vực có nghiệp vụ và có độ phức tạp cao); giúp lãnh đạo Uỷ ban nhân dân tỉnh (trong các lĩnh vực tổng hợp) về chỉ đạo và quản lý lĩnh vực công tác đó; - Các yêu cầu về kỹ năng như kỹ thuật xử lý công việc, khả năng giao tiếp và quan hệ phối hợp trong công tác, khả năng sử dụng các phương tiện kỹ thuật phục vụ trong công tác. Đội ngũ Theo từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Đội ngũ là tập hợp gồm một số đông người cùng chức năng, nhiệm vụ hoặc nghề nghiệp, hợp thành lực lượng hoạt động trong hệ thống (tô chức) và cùng chung một mục đích nhất định” [30]. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, đội ngũ là một tập thé người gắn kết với nhau, cùng chung lý tưởng, mục đích, ràng buộc nhau về vật chất, tỉnh thần và hoạt động theo một nguyên tac [2, tr. Theo đó có thể quan niệm: Đội ngũ là tập hợp những người được tô chức thành một lực lượng, có chung một lý tưởng, mục đích, nhiệm vụ đó là: tạo ra “sản phẩm”, thực hiện mục tiêu mà nhà nước - xã hội dé ra cho lực lượng, tổ chức mình.