Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CBVC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Lý luận chung về nâng cao chất lượng đô ̣i ngũ CBVC ở trường Đa ̣i ho ̣c 1. Khái niệm về đội ngũ CBVC Theo nhà nghiên cứu Phạm Tất Dong (2011): “Đội ngũ CBVC là những người thực hiện các công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc các lĩnh vực: giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học, công nghệ, văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, lao động - thương binh và xã hội, thông tin - truyền thông, tài nguyên - môi trường, dịch vụ. như bác sĩ, giáo viên, giảng viên đại học,.
hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Đô ̣i ngũ cá n bộ viên chức trong cá c trườ ng đa ̣i ho ̣c bao gồ m: Đội ngũ lãnh đạo quản lý (viên chức quản lý); đội ngũ giảng viên và nghiên cứu viên và đội ngũ phục vụ công tác đào tạo. Đô ̣i ngũ cá n bô ̣ giả ng viên là bô ̣ phận nhân lực chủ yế u trong cá c trường đa ̣i ho ̣c (Phạm Thế Sủng &Lưu Xuân Mới, 2000). Viên chức quản lý là người được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý có thời hạn, chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc trong đơn vị hành chính sự nghiệp (trường đại học) nhưng không phải công chức và được hưởng phụ cấp quản lý (luật viên chức, 2010).
Cán bô ̣ giảng viên bao gồm các nhà sư phạm được tuyển dụng và bổ nhiệm vào các ngạch giảng viên, giảng viên chính, phó giáo sư, giảng viên cao cấp và giáo sư trong biên chế sự nghiệp của cơ sở đào tạo đại học - cao đẳng công lập hoặc trong danh sách làm việc toàn thời gian của cơ sở giáo dục đại học - cao đẳng ngoài công lập, gồ m giảng viên cơ hữu và giảng viên thỉnh giảng. 7 Giảng viên cơ hữu là giảng viên thuộc biên chế chính thức của Nhà trường. Giảng viên thỉnh giảng là giảng viên gồm có giảng viên ở các trường đại học, học viên thỉnh giảng tại trường và giảng viên kiêm chức là cán bộ lãnh đạo các Cục, Vụ, Viện Khoa học Thanh tra (Thông tư số 44 /2011/TT- BGDĐT, 2011) Tại Điều 74 của Luật Giáo dục và Điều 31 của Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02/8/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục qui định: “Thỉnh giảng là việc một cơ sở giáo dục mờinhà giáohoặc ngườicó đủtiêu chuẩn của nhà giáo ở nơi khác đến giảng dạy.Khuyến khích các cơ sở giáo dục mời nhà giáo, nhà khoa học trong nước, nhà khoa học là người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài đến giảng dạy ở các trường Việt Nam theo chế độ thỉnh giảng” (Luật giáo dục, 2006). Như vâ ̣y, đô ̣i ngũ CBVC trong các trường đại ho ̣c là những cán bô ̣ trực tiế p hoă ̣c gián tiế p phục vu ̣ công tác giáo du ̣c gồ m cán bô ̣ quản lý và cán bô ̣ giảng viên.
Khái niệm chất lượng đội ngũ CBVC Chất lượng đội ngũ CBVC là sự kết hợp các tiêu chuẩn cơ bản của người viên chức bao gồm: phẩm chất (đức) và năng lực (tài) tạo nên cấu trúc nhân cách của mỗi người viên chức. Phẩm chất CBVC là thế giới quan của họ (hay nói cách khác là phẩm chất chính trị của viên chức), là nền tảng định hướng thái độ, hành vi ứng xử của CBVC. Năng lực của đô ̣i ngũ CBVC bao gồm: năng lực chuyên môn; năng lực tổ chức; năng lực thực hiện; năng lực giao tiếp; năng lực kiểm tra, đánh giá (Nguyễn Thị Ban Mai, 2015) Chất lượng đội ngũ CBVC còn được thể hiêṇ thông qua ba khía cạnh cơ bản là chất lượng đào tạo nguồn nhân lực; năng lực và hiệu quả hoạt động khoa học; chất lượng các dịch vụ xã hội (Nguyễn Thị Ban Mai, 2015) 8 Chất lượng đội ngũ CBVC chịu sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau, từ chủ quan như năng lực, trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức, ý chí phấn đấu vươn lên của từng cá nhân cho đến các điều kiện, yếu tố khách quan như điều kiện, môi trường làm việc, công tác tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, quản lý, sử dụng cũng như các chế độ, chính sách ưu đãi và cơ chế kiểm tra, đánh giá công nhận,… Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu về khoa học giáo dục thì chất lượng đội ngũ cán bô ̣ viên chức chủ yếu phụ thuộc vào tư chất nghề nghiệp của mỗi cán bô ̣. Tư chất của cán bô ̣ gồm cả về phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn và năng lực cán bô ̣.
Một là, về phẩm chất: Phẩm chất của các CBVC tạo nên linh hồn và sức mạnh cho đội ngũ này. Phẩm chất đội ngũ CBVC trước hết được biểu hiện ở phẩm chất chính trị. Phẩm chất chính trị là yếu tố rất quan trọng giúp cho người cán bô ̣ có bản lĩnh vững vàng trước những biến động của xã hội. Trên cơ sở đó thực hiện hoạt động giáo dục toàn diện, định hướng xây dựng nhân cách cho học sinh - sinh viên có hiệu quả.
Bên cạnh việc nỗ lực phấn đấu nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng sư phạm, CBVC cần có bản lĩnh chính trị vững vàng.Bản lĩnh chính trị vững vàng sẽ giúp người cán bô ̣ có niềm tin vào tươnglai tươi sáng của đất nước và có khả năng xử lý được những tình huống chính trị nảy sinh trong hoạt động phu ̣c vu ̣ đào tạo. Phẩm chất đạo đức mẫu mực cũng là một trong những tiêu chuẩn hàng đầu của đô ̣i ngũ CBVC. Cùng với năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức được coi là yếu tố tất yếu nền tảng của người giảng viên. Hai là, về trình độ: Trình độ chuyên môn là những công việc đòi hỏi người thực hiên công việc đó phải là những người có kỹ năng làm việc đặc thù, chuyên nghiệp, đã được đào tạo nhằm đáp ứng được việc thực hiện các công việc đó.
Lao động thực hiện các công việc chuyên môn, phải qua đào 9 tạo, và được gọi là lao động lành nghề, hay lao động chuyên nghiệp. Lao động chuyên nghiệp hoạt động trong môi trường làm việc chuyên nghiệp phù hợp chuyên môn (thực hiện các công việc đúng chuyên môn) gọi là nghề nghiệp. Các hoạt động chuyên nghiệp của lao động chuyên nghiệp (tứclao động lành nghề) gọi là hoạt động nghề nghiệp (Nguyễn Thị Bích Đào, 2009). Trình độ chuyên môn của đội ngũ CBVC được yêu cầu cao hơn so với lực lượng lao động khác vì tính đặc thù của ngành.
Người giảng viên phải là người thực sự có trình độ chuyên môn giỏi thì mới có thể có khả năng truyền đạt những kiến thức của mình cho người học có thể hiểu và nắm bắt nhưng thông tin quan trọng cần truyền đạt. Trình độ của đội ngũ CBVC là yếu tố phản ánh khả năng trí tuệ của đội ngũ này, là điều kiện cần thiết để cho họ thực hiện hoạt động quản lý, hoa ̣t đô ̣ng giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Trình độ của đội ngũ CBVC trước hết được thể hiện ở trình độ được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ. Trình độ của đội ngũ CBVC còn được thể hiện ở khả năng tiếp cận và cập nhật của đội ngũ này với những thành tựu mới của thế giới, những tri thức khoa học hiện đại, những đổi mới trong giáo dục và đào tạo để vận dụng trực tiếp vào hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học của mình.
Mặt khác, trong xu thế phát triển của xã hội hiện đại, ngoại ngữ và tin học cũng là những công cụ rất quan trọng giúp người viên chức tiếp cận với tri thức khoa học tiên tiến của thế giới, tăng cường hợp tác và giao lưu quốc tế để nâng cao trình độ, năng lực giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Hiện nay, trình độ về ngoại ngữ tin học của đội ngũ CBVC đã và đang được nâng cao, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập. Ba là, về năng lực: Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hay tự nhiên sẵn có để thựchiện mộthoạt động nào đó, hoặc là phẩm chất tâm lý, sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó (Trần Văn Tùng, 2005). 10 Đối với đội ngũ CBVC, năng lực được hiểu là trên cơ sở hệ thống những tri thức mà người cán bô ̣ được trang bị, họ phải hình thành và nắm vững hệ thống các kỹ năng để tiến hành hoạt động sư phạm có hiệu quả.
Năng lực giảng dạy của người giảng viên là khả năng đáp ứng yêu cầu học tập, nâng cao trình độ học vấn của đối tượng; là khả năng đáp ứng sự tăng quy mô đào tạo; là khả năng truyền thụ tri thức mới cho sinh viên. Điều đó phụ thuộc rất lớn ở trình độ, kỹ năng của người giảng viên; điều kiện và thiết bị dạy học chủ yếu là được thể hiện ở chất lượng sản phẩm do họ tạo ra, đó chính là chất lượng và hiệu quả đào tạo. Năng lực phu ̣c vu ̣ giảng dạy của người quản lý được thể hiện ở mức đô ̣ hoàn thành công viê ̣c giúp hoa ̣t đô ̣ng giảng da ̣y của giảng viên đươ ̣c thực hiê ̣n hiêụ quả. Nâng cao chất lượng đội ngũ CBVC 1.
Vai trò của chấ t lượng đội ngũ CBVC Nâng cao chấ t lươ ̣ng đội ngũ CBVC là một trong những biện pháp tích cực tăng khả năng thích ứng của đơn vi,̣ tổ chức sự nghiêp̣ trước sự thay đổi của môi trường. Công tác này cung cấp cho các đơn vi ̣ nhà nước nguồn vốn nhân sự chất lượng cao góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh (Trần Văn Tùng, 2005) Chấ t lượng đô ̣i ngũ CBVC được coi là một vũ khí chiến lược mà các đơn vi ̣ sử du ̣ng nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trước các đối thủ. Góp phần thực hiện tốt chiến lược chung về nhân sự của một trường đại học, mô ̣t bê ̣nh viện, mô ̣t đơn vi ̣quân đô ̣i. và cao hơn là thực hiện chiến lược chung về hoa ̣t đô ̣ng giáo dục của một quốc gia.
Ngày nay, nâng cao chấ t lươ ̣ng đô ̣i ngũ CBVC được coi như một khoản đầu tư vào nguồn vốn nhân lực của tổ chức.Các nghiên cứu cho thấy hiệu quả của những nhân viên mới có chấ t lươ ̣ng có hiêụ quả làm viê ̣c ngang bằng với những nhân viên có kinh nghiệm.