CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRONG DOANH NGHIỆP 1. Bản chất của hoạt động quản lý trong doanh nghiệp. Khái niệm quản lý doanh nghiệp. Doanh nghiệp là một thực thể giữ vai trò huyết mạch trong nền kinh tế quốc dân, đảm bảo cho nền kinh tế thị trường được thông suốt, là cầu nối giữa các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước với người dân.
Theo Luật Doanh nghiệp 2005, doanh nghiệp được quy định: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Hệ thống các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, nhanh chóng thích ứng với các thay đổi của môi trường góp phần tạo nên một nền kinh tế phát triển năng động và bền vững. Đồng thời, bản thân trong nội bộ mỗi doanh nghiệp cần có một cơ chế để vận hành có hiệu quả, đồng bộ các bộ phận, phòng ban trong doanh nghiệp để tạo thành một thể thống nhất, phát huy được sức mạnh của cả tổ chức. Để làm được điều đó, rất cần bàn tay của các cán bộ quản lý trong doanh nghiệp.
Cùng với sự phát triển đa dạng các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường thì càng có sự tách bạch giữa 2 người: người chủ sở hữu và người quản lý doanh nghiệp. Trong đó, người quản lý được ví như “một bà mẹ đảm đang” quán xuyến, điều hành mọi hoạt động hàng ngày của công ty. Và hoạt động quản lý doanh nghiệp ngày càng đóng vai trò quan trọng, không chỉ trong nội bộ doanh nghiệp mà cả bên ngoài doanh nghiệp. Vậy, quản lý là gì? Quản lý được định nghĩa là một công việc mà một người lãnh đạo học suốt đời không thấy chán và cũng là sự khởi đầu của những gì họ nghiên cứu [3, trang 16].
14 Xét trên phương diện nghĩa của từ, quản lý thường được hiểu là chủ trì hay phụ trách một công việc nào đó. Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý. Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý. Đặc biệt là kể từ thế kỷ 21, các quan niệm về quản lý lại càng phong phú.
Các trường phái quản lý học đã đưa ra những định nghĩa về quản lý như sau: -Tailor: "Làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn người khác làm việc gì và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm "[3, trang 18]. - Fayel: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy”. - Hard Koont: "Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định".
- Peter F Druker: "Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn. Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích"[3,trang19]. Dalark: "Định nghĩa quản lý phải được giới hạn bởi môi trường bên ngoài nó. Theo đó, quản lý bao gồm 3 chức năng chính là: Quản lý doanh nghiệp, quản lý giám đốc, quản lý công việc và nhân công".
Như vậy, đặc điểm lớn nhất trong lý luận của Peter F. Dalark là cách nhìn hệ thống mở và chuyển động". Đây cũng là quan niệm cốt lõi trong tư tưởng triết học về quản lý của ông. Nếu không có quản lý hiệu quả thì doanh nghiệp không thể tồn tại và từ đó không thể xây dựng một xã hội tự do và phát triển.
Tóm lại, quản lý mới chỉ dừng lại ở quan niệm và có thể được hiểu là quá trình điều hành, phối hợp sắp xếp và bố trí nhân lực thực hiện các nhiệm 15 vụ đã cho trước. Là hoạt động phối hợp và sử dụng tối ưu các nguồn lực (con người, tài chính) trong tổ chức. Quản lý ở đây chỉ hành vi quản lý, là sự kết hợp sự kết hợp của 3 phương diện: Thứ nhất, thông qua tập thể để thúc đẩy tính tích cực của cá nhân. Thứ hai, điều hoà quan hệ giữa người với người, giảm mâu thuẫn giữa hai bên.
Thứ ba, tăng cường hợp tác hỗ trợ lẫn nhau, thông qua hỗ trợ để làm được những việc mà một cá nhân không thể làm được, thông qua hợp tác tạo ra giá trị lớn hơn giá trị cá nhân - giá trị tập thể. Quản lý doanh nghiệp là dạng quản lý phổ biến trong thực tế. Quản lý doanh nghiệp là thực hiện những công việc có vai trò định hướng, điều tiết, phối hợp hoạt động của toàn bộ và của các thành tố thuộc hệ thống doanh nghiệp nhằm đạt được hiệu quả cao bền lâu nhất có thể. Và quản lý điều hành hoạt động của doanh nghiệp là tìm cách, biết cách tác động đến những con người, nhóm người để họ tạo ra và luôn duy trì ưu thế về chất lượng, giá, thời hạn của sản phẩm, thuận tiện cho khách hàng.
Quản lý công việc thì nhấn mạnh: công việc cần có sức sản xuất và phải thông qua những công cụ phân tích, tổng hợp, kiểm soát và thí nghiệm. Quản lý nhân công coi trọng nguồn nhân lực, làm cho họ có cơ hội, chủ động phát huy ưu điểm của mình, thoả mãn nhu cầu về chức năng và địa vị xã hội của họ trong công việc, đưa đến cho họ cơ hội, quyền lợi như nhau để mỗi người thể hiện giá trị, hoài bão của mình 1. Nội dung hoạt động quản lý doanh nghiệp. Quản lý doanh nghiệp là quá trình thực hiện các nội dung công việc sau đây: - Lập kế hoạch kinh doanh; 16 - Đảm bảo tổ chức bộ máy và tổ chức cán bộ cho hoạt động của doanh nghiệp; - Điều phối (Điều hành) hoạt động của doanh nghiệp; - Kiểm tra chất lượng của mọi sản phẩm, tiến độ thực hiện mọi công việc, mọi khoản chi, mọi nguồn thu; kiểm định chất lượng các sản phẩm quản lý trước khi quyết định triển khai…[4, trang 58].
Trình độ (năng lực) lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp phải được nhận biết, đánh giá trên cơ sở chất lượng thực hiện bốn loại công việc nêu ở trên. ĐƯỜNG LỐI, CHIẾN LƯỢC, KẾ HOẠCH CƠ CHẾ , CHÍNH SÁCH , QUY CHẾ QUẢN LÝ TÍCH CỰC TÁI SẢN XUẤT MỞ RỘNG SỨC TÍCH CỰC SÁNG TẠO TIẾN BỘ KHOA HỌC, LAO ĐỘNG TRONG LAO ĐỘNG CÔNG NGHỆ HIỆU QUẢ KINH DOANH AAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAA (Nguồn: Phòng Kế hoạch – Công ty TNHH cầu 1 Thăng Long) Sơ đồ 1.1: Nội dung hoạt động quản lý doanh nghiệp 1. Bản chất của hoạt động quản lý doanh nghiệp. Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý đề ra trong điều kiện biến đổi của môi trường.
Hoạt động quản lý doanh nghiệp là hoạt động hết sức phức tạp bởi vì: Tính chất công việc của một doanh nghiệp là rất đa dạng và phức tạp. Môi trường doanh nghiệp luôn luôn biến đổi từng ngày, từng giờ. 17 Hơn nữa, cấu thành nên doanh nghiệp bao gồm các bộ phận, các phòng ban khác nhau. Nếu một bộ phận nào đó yếu kém sẽ ảnh hưởng đến sự hoạt động của các bộ phận khác.
Do đó, quản lý doanh nghiệp cần làm sao đó cho bộ máy doanh nghiệp được vận hành nhịp nhàng, đồng bộ, phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả tập thể. Môi trường xung quanh doanh nghiệp là môi trường luôn luôn có biến động và doanh nghiệp luôn đứng trước nguy cơ phải chịu những rủi ro nhất định. Đó có thể là những rủi ro do thay đổi môi trường kinh tế vĩ mô như lạm phát, khủng hoảng kinh tế, rủi ro do sự thay đổi luật pháp, chính sách của Đảng, Nhà nước…. Quản lý doanh nghiệp tốt để đảm bảo ổn định, hạn chế được các rủi ro luôn tiềm ẩn xung quanh doanh nghiệp nhằm giúp cho doanh nghiệp đi vào hoạt động có hiệu quả và đạt được các mục tiêu đề ra.
Doanh nghiệp là một thực thể pháp lý trong nền kinh tế. Doanh nghiệp hoạt động luôn nhằm đạt được các mục tiêu nhất định. Do đó, quản lý doanh nghiệp thực chất cũng là vận hành bộ máy doanh nghiệp hoạt động để đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đặt ra. Vậy, mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là gì? Đầu tiên, doanh nghiệp hoạt động vì mục đích tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp hay doanh nghiệp hoạt động có lãi.
Doanh nghiệp là một thực thể trong nền kinh tế quốc dân và hoạt động vì mục đích lợi nhuận. Do đó, quản lý doanh nghiệp luôn gắn với lấy hiệu quả kinh tế thực tế từ hoạt động quản lý. Với các nguồn lực nhất định như nguồn lực tài chính, đất đai, nhân công….của doanh nghiệp đưa vào đầu tư, kinh doanh thì mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực, tối đa hóa lợi ích trên mỗi đồng chi phí bỏ ra. Làm sao để giảm được tối đa các chi phí cần thiết như chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công và các chi phí liên quan khác mà doanh thu thu được cao nhất.
Đây quả là bài toán nan giải trong hoạt động của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các rủi ro do môi trường xung quanh doanh nghiệp luôn 18 diễn ra. Đó có thể là rủi ro về môi trường kinh tế vĩ mô, rủi ro do thay đổi luật pháp, chính sách… tác động tiêu cực tới hoạt động của doanh nghiệp. Giữa lợi nhuận và rủi ro luôn có sự đánh đổi.
Đó là quy luật tất yếu: rủi ro càng cao thì lợi nhuận càng cao và ngược lại. Do đó quản trị rủi ro cũng là một yêu cầu quan trọng trong bài toán tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp mà doanh nghiệp luôn cần quan tâm. Thứ hai, đảm bảo cân bằng tài chính trong các hoạt động đầu tư, sản xuất – kinh doanh và khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp là một quá trình đầu tư.
Tùy vào lĩnh vực, ngành nghề hoạt động mà quá trình đầu tư có thể diễn ra ngắn hay dài. Do đó, đảm bảo khả năng tài chính cho các hoạt động của doanh nghiệp: cân đối giữa chi phí và doanh thu, giới hạn an toàn của các chỉ tiêu tài chính…cũng là vấn đề mà các doanh nghiệp luôn cần quan tâm.