phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn bao gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chất lƣợng dịch vụ Logistics của doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng dịch vụ Logistics của Tổng Công ty Cổ phần Bƣu chính Viettel. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng dịch vụ Logistics của Tổng Công ty Cổ phần Bƣu chính Viettel đến năm 2025. 11 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG DỊCH VỤ LOGISTICS CỦA DOANH NGHIỆP 1.
Tổng quan về dịch vụ Logistics 1. Khái niệm dịch vụ và dịch vụ Logistics 1. Khái niệm dịch vụ Dịch vụ ngày nay đƣợc khẳng định đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội. Hiện nay tồn tại nhiều khái niệm về dịch vụ dƣới góc độ tiếp cận khác nhau.
Theo nghĩa rộng xét trên phƣơng diện ngành, dịch vụ đƣợc coi là ngành kinh tế thứ ba, sau công nghiệp và nông nghiệp. Nếu vậy tất cả những lĩnh vực nằm ngoài hai ngành công nghiệp và nông nghiệp đều đƣợc coi là dịch vụ. Theo nghĩa hẹp, dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. Theo nghĩa này dịch vụ chính là phần mềm của sản phẩm, hỗ trợ cho khách hàng trƣớc, trong và sau bán, dịch vụ gắn liền với quá trình mua bán hàng hóa (Lâm Tuấn Hƣng, 2020).
Kotler và Armstrong (2004) cho rằng: “một dịch vụ là một hoạt động hay một lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, trong đó nó có tính vô hình và không dẫn đến sự chuyển giao, sở hữu nào cả”. Kotler và Kellers (2006) định nghĩa: “Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất”. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam (2005): “dịch vụ là các hoạt động phục vụ, nhằm thỏa mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt.
12 Trong kinh tế học, dịch vụ đƣợc hiểu là những thứ tƣơng tự nhƣ hàng hóa nhƣng dƣới dạng phi vật thể. Dịch vụ đƣợc ví nhƣ sản phẩm mà lại không giống nhƣ những sản phẩm vật chất thông thƣờng, có những sản phẩm nghiêng về hữu hình và có cả những sản phẩm nghiêng về vô hình. Với cách hiểu chung chung nhƣ vậy, việc đánh giá chất lƣợng cũng nhƣ quản lí dịch vụ trở nên khó khăn và thiếu chuẩn mực”. Theo Đặng Đình Đào (2012): “Dịch vụ là những hoạt động có ích của con ngƣời tạo ra các sản phẩm không tồn tại dƣới hình thái vật chất, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thỏa mãn đầy đủ, kịp thời, thuận tiện, văn minh các nhu cầu của sản xuất và của đời sống xã hội”.
Theo Luật giá năm 2012, dịch vụ đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật”. Trong luận văn này, khái niệm dịch vụ có thể đƣợc tiếp cận nhƣ sau: “Dịch vụ là những hoạt động và kết quả mà một bên (ngƣời bán) có thể cung cấp cho bên kia (ngƣời mua) và chủ yếu là vô hình không mang tính sở hữu. Dịch vụ có thể gắn liền hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất”. Khái niệm dịch vụ Logistics Nhiều tác giả đã đƣa ra các khái niệm khác nhau liên quan đến dịch vụ Logistics.
Có thể kể đến nhƣ sau: Theo Đoàn Thị Hồng Vân (2006): “Logistics là quá trình tối ƣu hoá về vị trí và thời gian, vận chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của dây chuyền cung ứng cho đến tay ngƣời tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”. Theo Nguyễn Quốc Tuấn (2015): “Logistics là một chuỗi các hoạt động liên tục, có quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, đƣợc thực 13 hiện một cách khoa học và có hệ thống qua các bƣớc nghiên cứu, hoạch định, tổ chức, quản lý, thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và hoàn thiện các hoạt động, bao gồm các công việc liên quan đến cung ứng, vận tải, theo dõi sản xuất, kho bãi, thủ tục phân phối, hải quan,. Do đó, Logistics là quá trình liên quan tới nhiều hoạt động khác nhau trong cùng một tổ chức, từ xây dựng chiến lƣợc cho đến các hoạt động chi tiết, cụ thể để thực hiện chiến lƣợc”. Nguyễn Xuân Hảo (2015) cho rằng: “Dịch vụ Logistics là những dịch vụ liên quan đến hoạt động đảm bảo tối ƣu toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh bao gồm từ việc cung ứng đầu vào đến tiêu thụ sản phẩm, đƣợc các doanh nghiệp sản xuất tự tổ chức thực hiện hoặc thuê ngoài mà có tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp trên thị trƣờng”.
Theo Luật Thƣơng mại năm 2005, dịch vụ Logistics đƣợc định nghĩa cụ thể nhƣ sau: “Dịch vụ Logistics là hoạt động thƣơng mại, theo đó thƣơng nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lƣu kho, lƣu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tƣ vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác theo thỏa thuận với khách hàng để hƣởng thù lao”. Đây cũng là khái niệm về dịch vụ Logistics đƣợc sử dụng trong luận văn. Đặc điểm của dịch vụ Logistics Dịch vụ Logistics khá giống các dịch vụ khác ở một số đặc điểm nhƣ: không dự trữ, vô hình, không tách rời giữa quá trình sản xuất và tiêu dùng; không ổn định về chất lƣợng dịch vụ giữa các thời điểm khác nhau và các nhà cung ứng khác nhau. Theo Lâm Tuấn Hƣng (2020), ngoài những đặc điểm của ngành dịch vụ nói chung, dịch vụ Logistics còn có những đặc điểm sau: Thứ nhất, đối tƣợng của quan hệ dịch vụ logistics gồm nhà cung cấp và khách hàng.
Nhà cung cấp dịch vụ Logistics là các doanh nghiệp yêu cầu phải đáp ứng đủ các điều kiện về phƣơng tiện, công cụ đảm bảo tiêu chuẩn an toàn, 14 kỹ thuật và đội ngũ nhân viên đáp ứng yêu cầu. Nhà cung cấp dịch vụ Logistics phải là thƣơng nhân, kinh doanh có điều kiện. Khách hàng là những ngƣời có hàng hóa cần gửi hoặc cần nhận và phát sinh nhu cầu sử dụng dịch vụ giao nhận. Nhƣ vậy, khách hàng có thể là tổ chức hay cá nhân; có thể là chủ sở hữu hàng hóa hoặc không phải là chủ sở hữu hàng hóa.
Kết quả dịch vụ Logistics thể hiện giá trị gia tăng mà khách hàng nhận đƣợc về thời gian, vị trí, tính tiện lợi và tính kết nối. Thứ hai, quá trình cung ứng dịch vụ Logistics diễn ra phức tạp. Dịch vụ Logistics rất đa dạng và quá trình cung ứng dịch vụ bao gồm nhiều khâu, nhiều công đoạn. Nhận hàng từ ngƣời gửi để vận chuyển bao gồm: đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, chuyển hàng từ kho của ngƣời gửi tới cảng, bến tàu, bến xe.v…theo thỏa thuận giữa ngƣời vận chuyển đến ngƣời thuê vận chuyển; Làm các thủ tục giấy tờ cần thiết: thủ tục hải quan, vận đơn vận chuyển, làm thủ tục gửi và giữ hàng hóa.v… để gửi hàng hóa hoặc nhận hàng hóa đƣợc vận chuyển đến; Giao hàng hóa cho ngƣời vận chuyển, xếp hàng hóa lên phƣơng tiện vận chuyển theo quy định, nhận hàng hóa đƣợc vận chuyển đến; Tổ chức nhận hàng, lƣu kho, lƣu bãi, bảo quản hàng hóa hoặc thực hiện giao hàng hóa đƣợc vận chuyển đến cho ngƣời có quyền nhận hàng.
Thứ ba, để quá trình cung cấp dịch vụ Logistics đƣợc hiệu quả thì cần thiết phải có đƣợc sự tin tƣởng lẫn nhau của cả nhà cung cấp và khách hàng. Khi thuê ngoài dịch vụ, khách hàng đã giao tài sản của mình cho phía doanh nghiệp Logistics để thực hiện mục đích lƣu chuyển hàng hóa. Ở khía cạnh khác, các doanh nghiệp Logistics có thể sẽ nắm giữ những thông tin cần bảo mật ở mức độ cao nhƣ: thông tin về nguồn hàng, chiến lƣợc kinh doanh… để hỗ trợ quá trình cung cấp dịch vụ. Sự tin tƣởng trong kinh doanh là tiền đề để xây dựng mối quan hệ kinh doanh bền vững.
15 Thứ tƣ, dịch vụ Logistics tạo ra sự liên hoàn với các dịch vụ có liên quan đến hàng hóa nhƣ vận tải; đóng gói bao bì; giao nhận hàng hóa; lƣu kho; lƣu bãi; môi giới hải quan. Doanh nghiệp Logistics có thể cung cấp các dịch vụ riêng lẻ nhƣ thuê tàu, đóng gói hàng hóa, làm thủ tục hải quan, đăng ký mã hiệu… hoặc cung cấp những dịch vụ trọn gói. Doanh nghiệp Logistics thực hiện dịch vụ theo chuỗi, có sự sắp xếp hợp lý nhằm tiết kiệm chi phí, thời gian từ nhận hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, vận chuyển, lƣu kho, lƣu bãi, chuẩn bị giấy tờ, làm thủ tục hải quan và giao hàng tới cho ngƣời nhận. Thƣơng nhân cung ứng dịch vụ Logistics đƣợc hƣởng thù lao từ dịch vụ do mình cung ứng.
Vai trò của dịch vụ Logistics Dịch vụ Logistics có vai trò đối với nền kinh tế và doanh nghiệp nhƣ sau: 1. Đối với nền kinh tế Thứ nhất, dịch vụ Logistics góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội. Logistics là một chuỗi các hoạt động liên tục, có quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, nó là mối liên kết kinh tế xuyên suốt gần nhƣ toàn bộ qua trình sản xuất, lƣu thông hàng hóa và phân phối hàng hóa. Có thể nói, dịch vụ Logistics là xƣơng sống để các thành phần kinh tế có thể lƣu thông đƣợc hàng hóa, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển.
Nhiều quốc gia trên thế giới có nền kinh tế phụ thuộc phần lớn vào sự phát triển của dịch vụ Logistics. Một quốc gia có dịch vụ Logistics phát triển, hạ tầng Logistics đảm bảo, chi phí Logistics phù hợp sẽ là điều kiện quan trọng để thúc đẩy sự phát triển chung của cả nền kinh tế. Thứ hai, dịch vụ Logistics góp phần tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và của quốc gia. 16 Thế giới đang trong quá trình toàn cầu hóa, nền sản xuất toàn cầu đang ngày càng bị chia sẻ, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt đã làm cho dịch vụ Logistics trở thành một trong các lợi thế cạnh tranh của các quốc gia.
Logistics hỗ trợ cho luồng chu chuyển các giao dịch kinh tế. Nền kinh tế chỉ có thể phát triển nhịp nhàng, đồng bộ một khi chuỗi Logistics hoạt động liên tục, nhịp nhàng.