Chương 1 đã trình bày tổng quan vấn đề nghiên cứu, chương 2 sẽ trình bày cơ sở lý thuyết về chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn của khách hàng, giới thiệu các nghiên cứu trước có liên quan đến nghiên cứu này, đúc kết và đưa ra mô hình nghiên cứu đề nghị của nghiên cứu này. Khách hàng Theo Dale và ctg (2003), định nghĩa: Khách hàng là người mua một sản phẩm hay dịch vụ, theo nghĩa rộng có nghĩa là có nhu cầu được cung cấp một sản phẩm hay dịch vụ. Khách hàng được chia thành hai loại (i) Khách hàng bên trong là khách hàng nội bộ (các bộ phận chức năng của chính tổ chức), và (ii) Khách hàng bên ngoài là những người ở bên ngoài tổ chức có quan hệ với tổ chức và có nhu cầu được cung cấp sản phẩm hay dịch vụ của tổ chức. Đối tượng của nghiên cứu này là các doanh nghiệp trong nước nên khái niệm khách hàng ở đây là khách hàng bên ngoài, là đối tượng phục vụ của Sở Kế hoạch và Đầu tư.
Sự hài lòng của khách hàng Theo Phillip Kotler (2003), sự thỏa mãn/ hài lòng của khách hàng là mức độ trạng thái cảm giác của con người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả nhận được từ việc tiêu dùng sản phẩm hay dịch vụ so với kỳ vọng của người đó. Mức độ thỏa mãn của khách hàng phụ thuộc vào sự khác biệt giữa kết quả nhận được và kỳ vọng. Sự thỏa mãn của khách hàng được phân ra 3 cấp độ (i) Không hài lòng nếu kết quả thực tế thấp hơn kỳ vọng, (ii) Hài lòng nếu kết quả thực tế tương xứng với kỳ vọng, và (iii) Rất hài lòng nếu kểt quả thực tế cao hơn kỳ vọng. Kỳ vọng của khách hàng được hình thành từ kinh nghiệm mua sắm, thông tin khách hàng nhận được từ nhiều nguồn khác nhau như bạn bè, đồng nghiệp, từ quảng cáo, tiếp thị của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ và đối thủ cạnh tranh của doánh nghiệp.
Những thông tin này tạo cho khách hàng nhận thức chủ quan về chất lượng dịch vụ và do vậy hình thành sự kỳ vọng của khách hàng. Khi khách hàng sử dụng dịch vụ thì mới có nhận thức thật sự về chất lượng dịch vụ. Chất lượng được nhận thức không mang tính khách quan vì từng khách hàng đánh giá chất lượng dịch vụ theo tiêu chuẩn của riêng mình mà mỗi khách hàng có nhận thức, nhu cầu, sở thích và cách đánh giă riêng. Vì vậy, khi chất lượng dịch vụ được khách hàng nhận thức bằng hoặc hơn so với kỳ vọng thì mới có sự thỏa mãn về chất lượng dịch vụ và ngược lại khi chất lượng dịch vụ được khách hàng nhận thức thấp hơn so với sự kỳ vọng thì khách hàng không thỏa mãn về chất lượng dịch vụ.
Theo thuyết Abraham Maslow (1943), hành vi của con người chủ yếu hành động theo nhu cầu, nhu cầu tự nhiên của con người được sắp xếp theo hình tháp và chia thành các thang bậc khác nhau thể hiện tầm quan trọng từ thấp đến cao (trích theo Nguyễn Thị Liên Diệp, 2003). Có năm cấp bậc nhu cầu được sắp xếp như sau: (i) Nhu cầu vật chất bao gồm nhu cầu đảm bảo cho con người tồn tại như ăn uống, sở thích, sinh hoạt, tồn tại và phát triển nòi giống và các nhu cầu khác của cơ thể. (ii) Nhu cầu an toàn bao gồm nhu cầu về an ninh, được bảo vệ, không bị đe dọa về than thể, về việc làm, tài sản, thức ăn hoặc nhà ở, ổn định trong cuộc sống, mong muốn sống trong xã hội có pháp luật. (iii) Nhu cầu xã hội bao gồm mong muốn nhu cầu thuộc về một bộ phận, tổ chức nào đó hoặc nhu cầu về tình cảm, tình thương.
Nhu cầu này thể hiện qua quá trình giao tiếp như tìm kiếm, kết bạn, làm việc, đi picnic, làm việc nhóm, tham gia câu lạc bộ. (iv) Nhu cầu được tôn trọng thể hiện hai cấp độ: nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân, sự ghi nhận của xã hội và nhu cầu cảm nhận quý trọng chính bản thân, danh tiếng của mình, có lòng tự trọng, sự tự tin vào khả năng cửa bản thân. Nhu cầu này dẫn tới sự thỏa mãn như quyền lực, uy tín, địa vị và lòng tự tin. (v) Nhu cầu tự thể hiện chính là nhu cầu được sử dụng hết khả năng, tiềm năng của mình để tự khẳng định mình, để làm việc đạt các thành quả trong xã hội.
Theo lý thuyết về nhu cầu, khi các nhu cầu của con người được đáp ứng thì con người sẽ thấy thỏa mãn, có nghĩa là họ hài lòng và ngược lại. Trong chương tiếp .thuyet nhu cau cua Maslow để xây dựng thang đo. Sự không hài lòng của khách hàng Theo Anderson (1973), không hài lòng chính là sự bất mãn của người tiêu dùng, có thể được đo lường bằng mức độ chênh lệch giữa kỳ vọng với thực nhận của người tiêu dùng-đối với một sản phẩm, dịch vụ nào đó. Lý thuyết tiêu cực thừa nhận rằng, khi kỳ vọng của khách hàng là quá lớn, khách hàng sẽ phản ứng tiêu cực với bất kỳ sự không xác nhận nào, theo đó, sự không hài lòng sẽ xảy ra khi kết quả thực nhận thấp hơh mong đợi hoặc kết quả thực nhận vượt quá mong đợi (trích từ Peyton, Sarah Pitts và Kamery, 2003; Aigbavboa và Thwala, 2013).
Sự hài lòng của khách hàng về chất lưọng dịch vụ đăng ký doanh nghiệp 2. Các khái niệm Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh (theo Luật Doanh nghiệp, 2005). Hồ sơ hợp lệ là hồ sơ có đầy đủ giấy tờ theo quy định cùa Luật Doanh nghiệp, có nội dung được kê khai đầy đủ theo quy định của pháp luật (theo Luật Doanh nghiệp, 2005). Theo Nghị định 43/2010/NĐ-CP, ngày 15/4/2010 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp, thì việc đăng ký doanh nghiệp bao gồm nội dung về đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế đối với các loại hình doanh nghiệp thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
Đăng ký doanh nghiệp bao gồm đăng ký thành lập mới doanh nghiệp và đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp. Theo đó, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là văn bản hoặc bản điện tử mà cơ quan đăng ký kinh doanh cấp cho doanh nghiệp ghi lại những thông tin về đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế do doanh nghiệp đăng ký. Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và Giấy chứng nhận đăng ký thuế của doanh nghiệp. Dịch vụ đăng ký doanh nghiệp và khách hàng đăng ký doanh nghiệp Theo Ngô Đình Tráng (2009), đăng ký doanh nghiệp là việc cá nhân, công dân, đại diện cho tổ chức, doanh nghiệp chuẩn bị bộ hồ sơ hợp lệ theo quy định của pháp luật để đăng ký cho quá trình hoạt động của doanh nghiệp và theo đúng trình tự ■ ’■.
quy định, cơ quan đăng ký kinh doanh sẽ cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho tổ chức, doanh nghiệp đó. Theo đó, khách hàng đăng ký doanh nghiệp là những cá nhân, công dân đại diện được sự ủy quyền của các tổ chức, doanh nghiệp thực hiện việc giao dịch và đề nghị cơ quan chức năng cấp phép thành lập, thay đổi, bổ sung, phá sản, giải thể hoạt động của doanh nghiệp theo đúng quy định của pháp luật. Sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ đăng ký doanh nghiệp Theo Ngô Đình Tráng (2009), sự hài lòng của khách hàng đăng ký doanh nghiệp là sự so sánh chủ quan giữa mức độ mong muốn của khách hàng đãng ký doanh nghiệp với thực tế đáp ứng sự hài lòng đối với chất lượng dịch vụ đăng ký doanh nghiệp của cơ quan hữu quan. Sự hài lòng của khách hàng đãng ký doanh nghiệp tại Sở Ke hoạch và Đầu tư tỉnh Đồng Nai được hiểu là sự so sánh chủ quan giữa mức độ mong muốn của khách hàng đăng ký doanh nghiệp về mức độ tuân thủ các cam kết; thái độ, lề lối làm việc của cán bộ, công chức; tính công khai, minh bạch; trình tự, thủ tục thực hiện đăng ký doanh nghiệp với thực tế đáp ứng sự hài lòng đổi với chất lượng dịch vụ đăng ký doanh nghiệp của Sở Ke hoạch và Đầu tư tỉnh Đồng Nai.
Sự không hài lòng của khách hàng về chất lưọng dịch vụ đãng ký DN Oliver (1980) cho ràng không hài lòng là kết quả của một sự khác biệt giữa kỳ vọng của khách hàng và sản phẩm, dịch vụ mà khách hàng nhận được (trích từ Nimako, 2012). Đồng thời, Nimako (2012) cũng cho rằng hành vi khiếu nại của khách hàng có mối liên hệ chặt chẽ với sự không hài lòng, và khách hàng sẽ bày tỏ sự không hài lòng của mình bằng cách phàn nàn. Xét vào thực tế tại Sở Ke hoạch và Đầu tư tỉnh Đồng Nai, thì sự không hài lòng của doanh nghiệp được thể hiện qua những phàn nàn trực tiếp của đại diện doanh nghiệp với cán bộ phụ trách, hoặc phản ánh trực tiêp lên Lãnh đạo Phòng, Lãnh đạo Sở, hoặc khiếu nại Sở thông qua thư từ hòm thư góp ý, hoặc đường dây nóng của Sở Nội vụ. Dịch vụ và Chất lượng dịch vụ 2.
Dịch vụ: Theo Mathe và Shapiro (1993), “Dịch vụ là những hoạt động mang tính liên -y-tpcjaham.tri cho khách hànẹ trong thời gian dài và được đánh. giá bằng cách gia tăng mức độ thỏa mãn của khách hàng đối với những sản phẩm hay chuỗi sản phẩm”. Theo Phillip Kotler (2003), “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp ‘cho bên kia, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất” Tóm lại, Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người.
Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu hình) như hàng hóa nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội. Dịch vụ công Dịch vụ công (Public service) có quan hệ chặt chẽ với phạm trù hàng hóa công cộng.