Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong bối cảnh phát triển của khoa học kỹ thuật và yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông theo định hướng "lấy người học làm trung tâm", việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trở thành nhiệm vụ trọng tâm. Lý thuyết phong cách học tập chỉ ra rằng mỗi học sinh có xu hướng tiếp nhận tri thức qua các kênh giác quan và phương thức tư duy khác nhau. Việc vận dụng các phương pháp dạy học phù hợp với phong cách học tập ưu thế giúp học sinh tiếp thu kiến thức nhanh hơn, nâng cao kết quả học tập và tạo dựng hứng thú đối với môn học.

Chương trình Địa lí lớp 11 cấp Trung học phổ thông (THPT) tập trung trang bị hệ thống kiến thức về kinh tế - xã hội thế giới, các khu vực và quốc gia tiêu biểu. Đối với học sinh lứa tuổi 16–17, đây là những nội dung mang tính mới mẻ, kích thích tư duy khám phá nhưng cũng đòi hỏi tính khái quát và kỹ năng xử lý thông tin phức tạp. Nhằm đáp ứng sự phân hóa về trình độ nhận thức và phong cách học tập của học sinh lớp 11, đề tài "Sử dụng phương pháp dạy học theo góc nhằm nâng cao chất lượng dạy học Địa lí 11 Trung học phổ thông" được thực hiện.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là thiết lập tiến trình dạy học Địa lí lớp 11 THPT bằng phương pháp dạy học theo góc, hướng đến việc phát huy hoạt động nhận thức tích cực, tự chủ và sáng tạo của học sinh nhằm nâng cao chất lượng học tập bộ môn.

Để hiện thực hóa mục tiêu trên, đề tài xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng hợp cơ sở lí luận và thực tiễn về phương pháp dạy học theo góc.
  2. Lựa chọn cách vận dụng phương pháp dạy học theo góc trong dạy học Địa lí lớp 11 THPT.
  3. Thiết kế một số bài giảng trong chương trình Địa lí lớp 11 vận dụng phương pháp dạy học theo góc.
  4. Tiến hành tổ chức thực nghiệm sư phạm ở trường phổ thông để kiểm tra, đánh giá và kiểm chứng tính khả thi của đề tài.

Phạm vi và giới hạn nghiên cứu:

  • Thời gian thực hiện: Từ tháng 09/2017 đến tháng 05/2018.
  • Nội dung nghiên cứu: Cơ sở lý luận (khái niệm, đặc điểm, vai trò, ưu nhược điểm), nguyên tắc, quy trình thiết kế và tiến trình tổ chức dạy học theo góc đối với chương trình Địa lí 11.
  • Không gian nghiên cứu và thực nghiệm: Khảo sát thực trạng tại 3 trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Nam (THPT Nguyễn Trãi - Hội An, THPT Sào Nam, THPT Nguyễn Văn Cừ); tổ chức thực nghiệm sư phạm tại các lớp 11C1, 11C3, 11C5, 11C7 thuộc trường THPT Nguyễn Trãi (thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Khóa luận xây dựng dựa trên định hướng đổi mới phương pháp dạy học của Bộ Giáo dục và Đào tạo (theo dự thảo Đề án phát triển chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015) và lý luận dạy học tích cực.

  • Khái niệm dạy học theo góc: Bắt nguồn từ các quốc gia như Anh, Vương quốc Bỉ, Singapore và được chuyển giao vào Việt Nam thông qua Dự án Việt – Bỉ ("Nâng cao chất lượng đào tạo và bồi dưỡng giáo viên tiểu học, THCS các tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam"). Dạy học theo góc (còn gọi là trạm học tập hay trung tâm học tập) là phương pháp dạy học mà ở đó học sinh thực hiện các nhiệm vụ khác nhau tại các vị trí cụ thể trong không gian lớp học nhưng cùng hướng tới chiếm lĩnh một nội dung học tập theo các phong cách học khác nhau.
  • Bản chất tâm lý học: Khai thác tối đa chức năng của bán cầu não trái và bán cầu não phải, tạo điều kiện cho học sinh học sâu và học thoải mái thông qua hoạt động thực hành, trải nghiệm.
  • Hệ thống các góc học tập cơ bản: Gồm 4 góc chính:
    1. Góc phân tích: Học sinh xử lý tài liệu, văn bản, thông tin định lượng để trả lời các câu hỏi phát hiện.
    2. Góc quan sát: Học sinh khai thác thông tin từ tranh ảnh, bản đồ, video hoặc lược đồ.
    3. Góc trải nghiệm: Học sinh thực hành thao tác, tính toán số liệu hoặc tiến hành làm thí nghiệm.
    4. Góc thực hành (hoặc áp dụng): Học sinh vẽ biểu đồ, hoàn thiện bảng biểu hoặc viết báo cáo ngắn.
  • Bộ câu hỏi định hướng (CHĐH): Công cụ dẫn dắt học sinh khám phá tri thức, gồm 3 cấp độ liên kết chặt chẽ: Câu hỏi khái quát (CHKQ), Câu hỏi bài học (CHBH) và Câu hỏi nội dung (CHND).
  • Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh lớp 11: Độ tuổi 16–17 có khả năng tri giác có mục đích, tư duy trừu tượng phát triển, xuất hiện tính hoài nghi khoa học, nhu cầu khẳng định cái tôi và khả năng hợp tác nhóm cao.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả kết hợp đồng bộ 5 phương pháp nghiên cứu sư phạm:

  1. Phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu: Phân tích tài liệu Dự án Việt – Bỉ, sách giáo khoa, sách giáo viên Địa lí 11, giáo trình Lí luận dạy học Địa lí và tài liệu chuẩn kiến thức kỹ năng.
  2. Phương pháp phân tích số liệu thống kê: Sử dụng các công cụ toán thống kê để phân tích, xử lý định lượng dữ liệu điều tra thực trạng và kết quả kiểm tra sau thực nghiệm sư phạm.
  3. Phương pháp điều tra thực tiễn: Phát phiếu hỏi đối với 12 giáo viên Địa lí tại 3 trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, kết hợp dự giờ và trao đổi chuyên môn trực tiếp.
  4. Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến giảng viên chuyên ngành phương pháp dạy học Địa lí tại Trường Đại học Tây Bắc và Đại học Đà Nẵng.
  5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức giảng dạy trực tiếp các giáo án thiết kế theo góc tại các lớp thực nghiệm và đối chứng để kiểm chứng tính hiệu quả.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc vận dụng phương pháp dạy học theo góc trong dạy học Địa lí

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về dạy học theo góc, phân tích đặc điểm cấu trúc chương trình Địa lí 11 và công bố số liệu khảo sát thực trạng giảng dạy tại tỉnh Quảng Nam.

Chương trình Địa lí 11 có thời lượng 52 tiết/năm học (Học kì I: 18 tiết; Học kì II: 34 tiết), gồm 2 phần chính:

  • Phần A: Khái quát nền kinh tế - xã hội thế giới (xu hướng toàn cầu hóa, các vấn đề toàn cầu, vấn đề khu vực châu Phi, Mĩ La tinh, Tây Nam Á và Trung Á).
  • Phần B: Địa lí khu vực và quốc gia (Hoa Kì, Bra-xin, Liên minh Châu Âu EU, Liên bang Nga, Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Đông Nam Á, Ô-xtrây-li-a, Ai Cập). Chương trình có 8/35 tiết dành cho bài thực hành (chiếm 23%), hệ thống kênh hình phong phú (bản đồ, biểu đồ, bảng số liệu), tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức các trạm học tập phân hóa.

Khảo sát 12 giáo viên Địa lí tại THPT Nguyễn Trãi, THPT Sào Nam và THPT Nguyễn Văn Cừ cho thấy thực trạng tiếp cận và triển khai phương pháp như sau:

Tiêu chí khảo sát Phân loại kết quả Số lượng (GV) Tỷ lệ (%)
Hình thức tiếp cận Học tại trường Đại học 12 100%
Tập huấn chuyên môn 10 83,3%
Tự học 6 50,0%
Khác 2 16,6%
Nhận thức về mức độ cần thiết Rất cần thiết 2 16,7%
Cần thiết 6 50,0%
Bình thường 4 33,3%
Không cần thiết 0 0,0%
Tần suất sử dụng thực tế Thường xuyên 0 0,0%
Thỉnh thoảng 2 16,7%
Hiếm khi 4 33,3%
Không bao giờ 6 50,0%
Nội dung phù hợp nhất Phần B (Địa lí khu vực và quốc gia) 8 66,7%
Phần A (Khái quát KT-XH thế giới) 2 16,7%
Các bài học cụ thể khác 2 16,7%
Hình thức bài học phù hợp Tiết bài thực hành 8 66,7%
Tiết lí thuyết 4 33,3%
Tiết ôn tập 0 0,0%

Thực trạng phản ánh sự chênh lệch lớn: 66,7% giáo viên nhận định phương pháp là cần thiết hoặc rất cần thiết, 100% đã tiếp cận qua đào tạo đại học, song có tới 50% giáo viên chưa bao giờ áp dụng trong thực tế dạy học do trở ngại về thời gian chuẩn bị và không gian lớp học.

Chương 2: Thiết kế và tổ chức dạy học theo góc trong dạy học Địa lí 11 Trung học phổ thông

Chương 2 trình bày khung nguyên tắc, quy trình kỹ thuật 7 bước thiết kế, quy trình 5 bước tổ chức và hệ thống 3 mẫu giáo án thực hành minh họa.

Hệ thống nguyên tắc thiết kế:

  1. Đảm bảo phù hợp với nhu cầu của học sinh và do chính học sinh thực hiện.
  2. Đảm bảo đúng nội dung chương trình sách giáo khoa Địa lí 11 và thể hiện mối quan hệ liên môn.
  3. Đảm bảo có sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật hiện đại.

Quy trình thiết kế bài học theo góc (7 bước):

  • Bước 1: Lựa chọn và xác định nội dung trọng tâm bài học.
  • Bước 2: Xác định các góc có trong bài học.
  • Bước 3: Xác định nội dung cụ thể cho từng góc dựa trên tài liệu thu thập.
  • Bước 4: Tóm tắt bài dạy và xác định định hướng năng lực.
  • Bước 5: Xây dựng bộ câu hỏi định hướng (CHĐH).
  • Bước 6: Xây dựng kế hoạch và công cụ đánh giá (kết hợp giáo viên đánh giá và học sinh tự đánh giá/đánh giá đồng đẳng).
  • Bước 7: Lập phương án chia nhóm và sơ đồ luân chuyển góc.

Quy trình tổ chức dạy học trên lớp (5 bước):

  • Bước 1 (Sắp xếp): Bố trí không gian phòng học, phân chia khu vực góc và chuẩn bị trang thiết bị, phiếu giao việc trước giờ học.
  • Bước 2 (Giới thiệu): Giới thiệu mục tiêu, nhiệm vụ từng góc, thời gian tối đa và sơ đồ luân chuyển góc; học sinh chọn góc xuất phát (5 phút).
  • Bước 3 (Hoạt động): Học sinh làm việc độc lập hoặc phối hợp nhóm tại các góc (thời gian tối đa khoảng 6 phút/góc, tổng thời gian hoạt động tại góc khoảng 25 phút); giáo viên hỗ trợ các nhóm gặp khó khăn.
  • Bước 4 (Luân chuyển): Giáo viên hướng dẫn các nhóm luân chuyển góc theo chiều quy định để hoàn thành toàn bộ nội dung.
  • Bước 5 (Tổng kết - Đánh giá): Đại diện học sinh báo cáo kết quả tại góc cuối cùng, các nhóm nhận xét, giáo viên chuẩn hóa kiến thức (12 phút).

Hệ thống giáo án mẫu chi tiết:

  • Mẫu 1: Bài 8 - Liên bang Nga (Tiết 3: Thực hành - Tìm hiểu về thay đổi GDP và phân bố nông nghiệp của Liên bang Nga): Thiết kế 3 góc:
    • Góc quan sát: Khai thác hình 8.10 và video để xác định vùng phân bố lúa mì (Đồng bằng Đông Âu, Đồng bằng Tây Xibia), củ cải đường (Tây Nam Đồng bằng Đông Âu), rừng, chăn nuôi bò, lợn, cừu, thú lông quý.
    • Góc trải nghiệm: Vẽ biểu đồ đường thể hiện tốc độ tăng trưởng GDP của Liên bang Nga qua các năm (giai đoạn sau năm 2000 tăng nhanh, từ 1999 đến 2006 tăng hơn 7 lần).
    • Góc phân tích: Giải thích nguyên nhân phân bố nông nghiệp và sự tăng trưởng GDP dựa trên điều kiện đất đen, đất pôtzon và khí hậu.
  • Mẫu 2: Bài 12 - Ô-xtrây-li-a (Tiết 3: Thực hành - Tìm hiểu về dân cư Ô-xtrây-li-a): Thiết kế 4 góc:
    • Góc quan sát: Khai thác hình 12.6 nhận xét mật độ dân cư thưa thớt (2,4 người/km²), 90% dân cư tập trung ở dải ven biển phía Đông, Đông Nam và Tây Nam (chỉ chiếm 3% diện tích).
    • Góc trải nghiệm: Tính toán tốc độ tăng dân số, tỷ lệ tăng tự nhiên (1,3% giai đoạn 1975–2000), cơ cấu nhập cư (95% gốc Âu, 4% gốc Á, 1% thổ dân).
    • Góc phân tích: Phân tích chất lượng dân cư (trình độ học vấn cao, chỉ số HDI cao, lực lượng khoa học kỹ thuật hàng đầu).
    • Góc áp dụng: Viết bài báo cáo ngắn tổng hợp đặc điểm dân cư Ô-xtrây-li-a theo dàn ý cấu trúc.
  • Mẫu 3: Bài 10 - Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Tiết 3: Thực hành - Tìm hiểu sự thay đổi của nền kinh tế Trung Quốc): Thiết kế 3 góc:
    • Góc quan sát: Xem tư liệu, video về tình hình phát triển kinh tế Trung Quốc.
    • Góc trải nghiệm: Vẽ biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu xuất nhập khẩu các năm 1985, 1995, 2004; phân tích cán cân từ nhập siêu năm 1985 sang xuất siêu năm 1995 và 2004.
    • Góc phân tích: Tính toán tỷ trọng GDP Trung Quốc so với thế giới (tăng từ 1,93% năm 1985 lên 2,38% năm 1995 và 4,03% năm 2004, tăng gần 7 lần sau 19 năm); phân tích mức tăng trưởng sản lượng nông sản (lương thực, bông, lạc, mía, thịt lợn, thịt bò, thịt cừu).

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Chương 3 trình bày việc kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của các tiến trình dạy học đã thiết kế tại trường THPT Nguyễn Trãi (Hội An, Quảng Nam). Quá trình thực nghiệm được triển khai đồng thời trên các lớp thực nghiệm (sử dụng phương pháp dạy học theo góc) và các lớp đối chứng (sử dụng phương pháp dạy học truyền thống) thuộc khối 11 (lớp 11C1, 11C3, 11C5, 11C7). Kết quả được tác giả thu thập thông qua phiếu đánh giá thái độ, mức độ hứng thú học tập và bài kiểm tra đánh giá kiến thức - kỹ năng sau bài học.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Khảo sát thực trạng: Đề tài cung cấp bộ dữ liệu thực chứng về nhận thức và thực tế triển khai phương pháp dạy học theo góc của giáo viên Địa lí THPT tại Quảng Nam (với 100% giáo viên biết đến phương pháp nhưng 50% chưa từng áp dụng và 33,3% hiếm khi sử dụng).
  • Hệ thống hóa tài liệu chuyên môn: Xác định bài thực hành thuộc Phần B (Địa lí khu vực và quốc gia) là nội dung có độ tương thích cao nhất với phương pháp theo góc (được 66,7% giáo viên đồng thuận).
  • Sản phẩm sư phạm cụ thể: Hoàn thiện bộ công cụ dạy học gồm 3 giáo án thực hành chuẩn hóa, hệ thống phiếu giao việc (Phiếu học tập từ số 1 đến số 4 cho từng bài) và hướng dẫn kỹ thuật luân chuyển góc trong khung thời lượng 45 phút của một tiết học phổ thông.

Đề xuất và kiến nghị của tác giả

Khóa luận đưa ra các nhóm kiến nghị nhằm tạo điều kiện nhân rộng phương pháp:

  1. Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo: Tăng cường tổ chức các chuyên đề tập huấn chuyên sâu, hội thi giáo viên dạy giỏi có ứng dụng dạy học theo góc; đầu tư bổ sung trang thiết bị công nghệ thông tin và đồ dùng trực quan cho các trường THPT.
  2. Đối với cán bộ quản lý nhà trường: Linh hoạt sắp xếp thời khóa biểu, hỗ trợ kinh phí vật tư thực hành, bố trí phòng học bộ môn có không gian bàn ghế dễ di chuyển.
  3. Đối với giáo viên Địa lí: Nâng cao tinh thần tự học, chủ động ứng dụng công nghệ thông tin, phân loại phong cách học tập của học sinh ngay từ đầu năm học để thiết kế phiếu học tập phù hợp.
  4. Đối với học sinh: Tích cực rèn luyện kỹ năng tự học, năng lực hợp tác nhóm, nâng cao tính tự giác và ý thức kỷ luật trong quá trình luân chuyển trạm học tập.

Đóng góp mới của đề tài

Tác giả chỉ rõ khoảng trống nghiên cứu trước đó: Phương pháp dạy học theo góc tại Việt Nam chủ yếu mới được áp dụng trong môn Âm nhạc (tại Đại học An Giang), môn Hóa học, môn Vật lí lớp 10 (tại Đại học Tây Bắc), hoặc phân môn Địa lí tiểu học lớp 4 (bài Thành phố Đà Lạt). Đề tài là công trình sư phạm đầu tiên nghiên cứu có hệ thống việc thiết kế và tổ chức dạy học theo góc chuyên biệt cho chương trình môn Địa lí lớp 11 cấp THPT.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Khảo sát thực trạng giáo viên có quy mô mẫu còn hẹp (12 giáo viên tại 3 trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Nam). Phạm vi thiết kế bài giảng mới tập trung vào thể loại bài thực hành thuộc Phần B (Địa lí khu vực và quốc gia), chưa mở rộng sang các dạng bài lý thuyết và các chủ đề toàn cầu hóa thuộc Phần A.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng thiết kế bài dạy theo góc cho các bài lý thuyết Địa lí 11; xây dựng quy trình kết hợp dạy học theo góc với các kỹ thuật dạy học tích cực khác (như kỹ thuật khăn trải bàn, sơ đồ tư duy); triển khai thực nghiệm trên diện rộng tại nhiều địa bàn trường học có điều kiện cơ sở vật chất khác nhau.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tư liệu thực hành hữu ích đối với:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Sư phạm Địa lí: Tham khảo cấu trúc một khóa luận tốt nghiệp phương pháp dạy học hoàn chỉnh, phương pháp xử lý số liệu điều tra thực trạng và quy trình thực nghiệm sư phạm.
  • Giáo viên Địa lí THPT: Trực tiếp sử dụng 3 mẫu giáo án thực hành (Liên bang Nga, Ô-xtrây-li-a, Trung Quốc) kèm hệ thống phiếu học tập số 1, 2, 3, 4 để triển khai đổi mới phương pháp dạy học trên lớp.
  • Cán bộ quản lý chuyên môn bộ môn Địa lí: Tham khảo khung tiêu chí đánh giá giờ dạy học theo góc và kế hoạch bố trí không gian học tập tại trường phổ thông.

Câu hỏi thường gặp

1. Phương pháp dạy học theo góc được du nhập vào Việt Nam thông qua chương trình, dự án nào?
Phương pháp dạy học theo góc được chuyển giao vào Việt Nam thông qua Dự án Việt – Bỉ mang tên "Nâng cao chất lượng đào tạo và bồi dưỡng giáo viên tiểu học, THCS các tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam".

2. Bốn góc học tập cơ bản được tác giả thiết lập trong quy trình dạy học Địa lí 11 gồm những góc nào?
Bốn góc cơ bản gồm: Góc phân tích (xử lý tài liệu, thông tin lý thuyết), Góc quan sát (khai thác bản đồ, tranh ảnh, video), Góc trải nghiệm (thao tác tính toán, thí nghiệm) và Góc thực hành/áp dụng (vẽ biểu đồ, viết báo cáo).

3. Khảo sát thực tế tại Quảng Nam cho thấy tỷ lệ giáo viên chưa từng sử dụng phương pháp dạy học theo góc là bao nhiêu?
Trong số 12 giáo viên được khảo sát tại 3 trường THPT (Nguyễn Trãi, Sào Nam, Nguyễn Văn Cừ), có 50% giáo viên (6 người) trả lời "Không bao giờ" sử dụng và 33,3% (4 người) trả lời "Hiếm khi" sử dụng phương pháp này.

4. Ba bài học thực hành cụ thể nào trong chương trình Địa lí 11 được tác giả xây dựng giáo án mẫu?
Tác giả đã thiết kế 3 giáo án thực hành hoàn chỉnh:

  • Bài 8 (Tiết 3): Tìm hiểu về thay đổi GDP và phân bố nông nghiệp của Liên bang Nga.
  • Bài 12 (Tiết 3): Tìm hiểu về dân cư Ô-xtrây-li-a.
  • Bài 10 (Tiết 3): Tìm hiểu sự thay đổi của nền kinh tế Trung Quốc.

5. Hệ thống Bộ câu hỏi định hướng (CHĐH) trong tổ chức góc học tập gồm những cấp độ câu hỏi nào?
Bộ câu hỏi định hướng gồm 3 cấp độ: Câu hỏi khái quát (CHKQ - câu hỏi mở rộng bao hàm nhiều bài học), Câu hỏi bài học (CHBH - câu hỏi mở gắn trực tiếp với chủ đề của góc) và Câu hỏi nội dung (CHND - câu hỏi cụ thể dựa trên sự kiện, khái niệm thực tế).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Văn Thái đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và đánh giá khách quan thực trạng áp dụng phương pháp dạy học theo góc trong môn Địa lí 11 tại các trường THPT tỉnh Quảng Nam. Công trình đã xây dựng thành công quy trình thiết kế 7 bước, quy trình tổ chức 5 bước và 3 giáo án thực hành chuẩn hóa kèm phiếu học tập chi tiết. Kết quả nghiên cứu khẳng định tính khả thi của phương pháp dạy học theo góc trong việc nâng cao tính chủ động, phân hóa phong cách học tập và cải thiện chất lượng tiếp thu kiến thức Địa lí của học sinh lớp 11.