Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về chất lượng đào tạo nhân viên của doanh nghiệp. + Chương 2: Phân t ch và đánh giá thực trạng về đào tạo nhân viên của công ty CP khử trùng Việt Nam chi nhánh phía Bắc. + Chương 3: Đề xuất và kiến nghị để nâng cao chất lượng đào tạo nhân viên của công ty CP khử trùng Việt Nam chi nhánh phía Bắc. 8 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẤT LƢỢNG ĐÀO TẠO NHÂN VIÊN CỦA DOANH NGHIỆP 1.Các khái niệm cơ bản 1.
Nhân lực và nguồn nhân lực Nhân lực được hiểu là nguồn nhân lực trong từng con người, bao gồm trí lực và thể lực. Trí lực thể hiện ở sự suy nghĩ, hiểu biết của con người đối với thế giới xung quanh, thể lực là sức khoẻ, khả năng làm việc bằng cơ bắp, chân tay. Nhân lực phản ánh khả năng lao động của từng con người và là điều kiện cần thiết của quá trình lao động sản xuất xã hội. Nhân lực có ảnh hưởng rất lớn đến trình độ quản lý và trình độ sử dụng các yếu tố kinh doanh, nhân lực là yếu tố năng động, tích cực của mỗi quá trình sản xuất kinh doanh.
Nguồn nhân lực hay còn được gọi là “nguồn lực con người” được hiểu ở tầm vĩ mô là một nguồn lực đầu vào quan trọng cho sự phát triển của đất nước. Khái niệm “nguồn nhân lực” được sử dụng nhiều hơn vào thập kỷ 60 của thế kỷ XX ở nhiều nước phương Tây và ở một số nước Châu Á, khi khoa học “quản trị nguồn nhân lực” phát triển. Hiện nay khái niệm này để chỉ vai trò và vị tr con người trong sự phát triển kinh tế, xã hội. Ở nước ta, khái niệm “nguồn nhân lực” được nhắc đến nhiều kể từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX.
Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng hàng đầu trong lực lượng sản xuất. Với vai trò quyết định sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất, nguồn nhân lực quyết định sự phát triển và tiến bộ của xã hội.Có nhiều cách tiếp cận khái niệm nguồn nhân lực dưới nhiều góc độ khác nhau. Theo Liên hợp quốc, “nguồn nhân lực là tất cả các kiến thức. kĩ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sang tạo của con người có quan hệ với sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”.
Với quan điểm này, nguồn nhân lực 9 được xét ở phương diện chất lượng, vai trò và sức mạnh của con người đối với sự phát triển của xã hội. Theo Tổ chức lao động quốc tế thì nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng tham gia lao động. Dưới góc độ của Kinh tế chính trị có thể hiều: nguồn nhân lực là tổng hòa thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước. Tóm lại, trong luận văn, khái niệm nguồn nhân lực sẽ được tiếp cận trong phạm vi một tổ chức, bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn của mỗi con người mà nguồn lực này gồm thể lực và trí lực.
Các quan niệm về nguồn nhân lực tuy khác nhau ở cách tiếp cận nhưng đều có điểm chung khi cho rằng đó là khái niệm về số dân cư, cơ cấu dân cư và chất lượng dân của một đất nước với tất cả các đặc điểm về thể chất, tinh thần, sức khỏe, trí tuệ, năng lực, phẩm chất và lịch sử của dân tộc đó. Quản trị nhân lực Quản trị nhân lực là tổng hợp những hoạt động quản trị liên quan đến việc tạo ra, duy trì, phát triển và sử dụng có hiệu quả yếu tố con người trong tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp. Nguyễn Ngọc Quân, ThS. Nguyễn Vân Điềm (2015), Giáo trình Quản trị nhân lực – Trường Đại học Kinh tế quốc dân] Có rất nhiều cách hiểu về Quản trị nhân lực: Ở góc độ tổ chức quá trình lao động: “Quản lý nhân lực là lĩnh vực theo dõi, hướng dẫn, điều chỉnh, kiểm tra sự trao đổi chất (năng lượng, thần kinh, bắp thịt) giữa con người với các yếu tố vật chất của tự nhiên (công cụ lao 10 động, đối tượng lao động, năng lượng.) trong quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần để thoả mãn nhu cầu của con người và xã hội nhằm duy trì, bảo vệ và phát triển tiềm năng của con người”.
Với tư cách là một trong các chức năng cơ bản của quá trình quản trị: Quản trị nhân lực bao gồm các việc từ hoạch định, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát các hoạt động liên quan đến việc thu hút, sử dụng và phát triển người lao động trong các tổ chức. Đi sâu vào ch nh nội dung hoạt động của quản trị nhân lực thì “Quản lý nhân lực là việc tuyển dụng, sử dụng, duy trì và phát triển cũng như cung cấp các tiện nghi cho người lao động trong các tổ chức”. Tựu chung lại, quản trị nhân lực được quan niệm trên hai góc độ: nghĩa hẹp và nghĩa rộng. Nghĩa hẹp của quản lý nguồn nhân lực là cơ quan quản lý làm những việc cụ thể như: tuyển người, bình xét, giao công việc, giải quyết tiền lương, bồi dưỡng, đánh giá chất lượng cán bộ công nhân viên nhằm chấp hành tốt mục tiêu, kế hoạch của tổ chức.
Xét trên góc độ quản lý, việc khai thác và quản lý nguồn nhân lực lấy giá trị con người làm trọng tâm, vận dụng hoạt động khai thác và quản lý nhằm giải quyết những tác động lẫn nhau giữa người với công việc, giữa người với người và giữa người với tổ chức. Tóm lại, khái niệm chung nhất của quản trị nguồn nhân lực được hiểu là những hoạt động nhằm tăng cường những đóng góp có hiệu quả của cá nhân vào mục tiêu của tổ chức trong khi đồng thời cố gắng đạt được các mục tiêu xã hội và mục tiêu cá nhân. Quản trị nhân lực có 4 nội dung chính, các nội dung này có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung và quy định lẫn nhau: Tuyển dụng nhân sự, bố trí và sử dụng nhân sự, đào tạo và phát triển nhân sự, đãi ngộ nhân sự. Đào tạo nhân lực và đào tạo nhân viên Có rất nhiều khái niệm khác nhau về đào tạo nhân lực, nhưng để hiểu xuyên suốt, luận văn đã thu thập và chọn ra một số khái niệm để phục vụ cho hoạt động nghiên cứu: Đào tạo là quá trình phát triển chất lượng nguồn nhân lực, cho phép nguồn nhân lực trở nên có hiệu quả hơn và đóng góp nhiều hơn vào việc đạt được các mục tiêu của tổ chức.
[Samue100’ Certo (1997), Modern Management, Nxb. Prentics – Hall Inc, tr 285] Theo S.Certo, quá trình đào tạo nhân lực gồm 4 bước: + Xác định nhu cầu đào tạo + Thiết kế chương trình đào tạo + Triển khai chương trình đào tạo + Đánh giá chương trình đào tạo Đào tạo là quá trình, nhờ đó mà người ta có được những khả năng bổ sung để đạt được những mục tiêu của tổ chức. Jackson (2003), Human Resource Management, Nxb. Thomson South – Western, tr.272] Đào tạo là việc dạy các thành viên trong tổ chức biết cách hoàn thành công việc hiện tại và giúp họ có được thêm kiến thức và kỹ năng cần thiết để hoàn thành công việc một cách hiệu quả.
George (2003), Contemporary Management, Nxb. Mc Graw Hill, tr.380] Tóm lại, đào tạo nhân lực được hiểu là hệ thống các biện pháp được sử dụng nhằm tác động lên quá trình học tập giúp con người tiếp thu các kiến thức, kỹ năng mới, thay đổi các quan điểm hay hành vi và nâng cao khả năng thực hiện công việc của cá nhân. Đó là tổng thể các hoạt động có tổ chức được thực hiện trong một thời gian nhất định nhằm đem đến sự thay đổi cho người lao động đối với công việc của họ theo chiều hướng tốt hơn. 12 Đào tạo nhân viên được hiểu là quá trình giảng dạy, hướng dẫn bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng của người nhân viên, chuẩn bị cho họ theo kịp với những thay đổi cơ cấu tổ chức và của bản thân công việc.
Chất lượng đào tạo nhân viên Chất lượng đào tạo nhân viên là một khái niệm khó định nghĩa, khó xác định, khó đo lường, khó nắm bắt và cách hiểu của mỗi người, mỗi cấp, mỗi góc độ cũng khác nhau. Theo Từ điển tiếng Việt: “chất lượng là cái làm nên phẩm chất giá trị của một vật”. Theo tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hóa (ISO): “chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”. Dưới góc độ các doanh nghiệp, chất lượng đào tạo nhân viên sẽ được đánh giá qua kiến thức, kĩ năng, tay nghề, khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao, khả năng th ch ứng với môi trường, đạo đức, tác phong làm việc của nhân viên.
Chất lượng đào tạo phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Chất lượng đầu vào Ch nh sách và trình độ quản lý Chương trình đào tạo Phương pháp giảng dạy Chất lượng đội ngũ giảng dạy Ngân sách, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học Đây cũng ch nh là các điều kiện để đảm bảo chất lượng đào tạo nhân viên. Vì vậy, muốn nâng cao chất lượng đào tạo nhân viên thì phải tác động để nâng cao chất lượng, hiệu quả của các yếu tố trên.Nội dung nghiên cứu về đào tạo nhân viên của doanh nghiệp 1. Xác định nhu cầu đào tạo nhân viên Xác định nhu cầu đào tạo nhân viên là giai đoạn đầu tiên và có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình đào tạo nhân viên của doanh nghiệp. Nếu việc xác định nhu cầu đào tạo nhân viên không ch nh xác, đầy đủ có thể gây ra nhiều lãng phí trong việc sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp, hơn nữa, kết quả đào tạo nhân viên có thể không đạt mục tiêu đề ra, làm giảm chất lượng công tác quản trị nhân lực trong doanh nghiệp.
Nhu cầu đào tạo nhân viên thay đổi không chỉ đối với từng vị trí công tác trong cơ cấu tổ chức mà còn đối với từng người trong doanh nghiệp, do vậy kiến thức cơ bản, nhu cầu, nguyện vọng, sở thích, và tiềm năng của họ không giống nhau.