PHẦN MỞ ĐẦU Chƣơng I: Chất lượng công trình xây dựng giao thông và quản lý chất lượng công trình xây dựng giao thông. Chƣơng II: Thực trạng công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng giao thông tại địa bàn Quận 2, Quận 9, Quận Bình Thạnh và Quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Chƣơng III: Nghiên cứu, hoàn thiện công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng giao thông tại địa bàn Quận 2, Quận 9, Quận Bình Thạnh và Quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 4 CHƢƠNG I CHẤT LƢỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG GIAO THÔNG VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG GIAO THÔNG 1.Tổng quan về chất lƣợng công trình xây dựng giao thông và quản lý chất lƣợng công trình xây dựng giao thông 1.
Khái niệm chất lƣợng công trình xây dựng Chất lượng công trình xây dựng là những yêu cầu về an toàn, bền vững, kỹ thuật và mỹ thuật của công trình nhưng phải phù hợp với qui chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng, các qui định trong văn bản qui phạm pháp luật có liên quan và hợp đồng kinh tế. Xét từ góc độ người quyết định đầu tư, chủ đầu tư, các đơn vị tham gia trực tiếp và người khai thác công trình xây dựng, chất lượng công trình được đánh giá bởi các đặc tính cơ bản sau: công năng, độ tiện dụng; tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật; độ bền vững, tin cậy; tính thẩm mỹ; an toàn trong khai thác, sử dụng; tính kinh tế và đảm bảo về tính thời gian (thời gian phục vụ của công trình). Mặt khác, chất lượng công trình xây dựng còn được quyết định bởi các yếu tố trong từng giai đoạn, cụ thể như sau: - Trong giai đoạn hình thành ý tưởng về công trình xây dựng: Từ khâu quy hoạch, lập dự án phải xét đến tính khả thi, công năng và hiệu suất khai thác để mang đến chất lượng công trình xây dựng tốt nhất. - Trong giai đoạn khảo sát, thiết kế: Việc khảo sát mang yếu tố quyết định đến kết cấu, độ bền và tuổi thọ của công trình xây dựng.
Việc thiết kế lại quyết định quy mô, công suất, mỹ quan và sự phù hợp của công trình xây dựng. - Trong giai đoạn thi công đến giai đoạn khai thác: Thể hiện ở các chất lượng của nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị, cấu kiện, chất lượng của đội ngũ công nhân, kỹ sư lao động trong quá trình thực hiện các hoạt động xây dựng. - Trong giai đoạn duy tu, bảo dưỡng: Tính kinh tế không chỉ thể hiện ở số tiền quyết toán công trình chủ đầu tư phải chi trả mà còn thể hiện chi phí duy tu, bảo dưỡng sau khi công trình đã đưa vào khai thác. Ví dụ: Mặt đường bê tông nhựa (BTN) tuy chi phí đầu tư xây dựng ít hơn mặt đường bê tông xi măng (BTXM), nhưng bù lại dễ bị hư hỏng, trồi lún,.
Ngược lại, mặt đường BTXM chi phí đầu tư xây dựng cao hơn nhưng tuổi thọ lâu hơn, ít phải duy tu sửa chữa. - Vấn đề an toàn không chỉ là trong khâu khai thác, sử dụng đối với người thụ hưởng công trình mà còn là cả trong giai đoạn thi công xây dựng đối với đội ngũ công nhân, kỹ sư xây dựng. 5 - Tính thời gian không chỉ thể hiện ở thời hạn công trình có thể phục vụ mà còn ở thời hạn phải hoàn thành, đưa công trình vào khai thác sử dụng. - Vệ sinh bảo vệ môi trường, theo luật pháp hiện hành, các công trình xây dựng giao thông nói riêng và công trình xây dựng nói chung đều phải tuân thủ luật bảo vệ môi trường.
Nhằm bảo vệ môi trường chung cho toàn xã hội, cho người dân khu vực xây dựng và cho chính công trình xây dựng. Chất lượng công trình xây dựng không những có liên quan trực tiếp đến an toàn sinh mạng, an toàn cộng đồng, hiệu quả của dự án đầu tư công trình xây dựng mà còn là yếu tố quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Do có vai trò quan trọng như vậy nên luật pháp về xây dựng của các nước trên thế giới đều coi đó là mục đích hướng tới. Ở Việt Nam, Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 được Quốc hội Khóa XIII thông qua năm 2014, trong đó chất lượng công trình xây dựng cũng là nội dung trọng tâm, xuyên suốt.
Luật Xây dựng và các văn bản hướng dẫn Luật về quản lý chất lượng công trình xây dựng đã được hoàn thiện theo hướng hội nhập quốc tế; những mô hình quản lý chất lượng công trình tiên tiến cùng hệ thống tiêu chí kỹ thuật cũng được áp dụng một cách hiệu quả. Chất lượng công trình xây dựng không chỉ đảm bảo sự an toàn về mặt kỹ thuật mà còn phải thỏa mãn các yêu cầu về an toàn sử dụng có chứa đựng yếu tố xã hội và kinh tế. Ví dụ: một công trình quá an toàn, quá chắc chắn nhưng không phù hợp với quy hoạch, kiến trúc, gây những ảnh hưởng bất lợi cho cộng đồng (an ninh, an toàn môi trường…), không kinh tế thì cũng không thoả mãn yêu cầu về chất lượng công trình. Có được chất lượng công trình xây dựng như mong muốn, có nhiều yếu tố ảnh hưởng, trong đó có yếu tố cơ bản nhất là năng lực quản lý (của chính quyền, của chủ đầu tư) và năng lực của các nhà thầu tham gia các quá trình hình thành sản phẩm xây dựng.
Đảm bảo chất lượng công trình xây dựng là toàn bộ các hoạt động có kế hoạch và có hệ thống được tiến hành trong cả 3 giai đoạn chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác, sử dụng. Lập kế hoạch chất lượng công trình xây dựng là việc thiết lập mục tiêu chất lượng của dự án, các biện pháp tổ chức và tiến độ tổ chức thực hiện quản lý chất lượng. Nội dung quản lý chất lƣợng công trình xây dựng giao thông Quản lý chất lượng công trình xây dựng là hoạt động quản lý của các chủ thể tham gia các hoạt động xây dựng theo quy định pháp luật có liên quan trong quá trình chuẩn bị, thực hiện đầu tư công trình xây dựng và khai thác, sử dụng công trình nhằm đảm bảo các yêu cầu về chất lượng và an toàn của công trình. 6 Quản lý chất lượng công trình xây dựng là kiểm tra các công việc và giai đoạn của công trình xây dựng để hạn chế sự thụt giảm chất lượng, cụ thể cần phải kiểm tra, kiểm soát công tác khảo sát, kiểm soát chất lượng công tác thiết kế; kiểm soát chất lượng vật liệu, vật tư và thiết bị; giám sát biện pháp thi công và tổ chức thi công; đánh giá chất lượng công trình trước khi đi vào sử dụng; áp đặt chế độ bảo hành và chế tài đối với nhà thầu xây dựng.
Nguyên tắc chung trong quản lý chất lượng công trình xây dựng được quy định tại Điều 4 Nghị định 46/2015/NĐ-CP về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng. Cụ thể như sau: - Công trình xây dựng phải được kiểm soát chất lượng theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan từ chuẩn bị, thực hiện đầu tư xây dựng đến quản lý, sử dụng công trình nhằm đảm bảo an toàn cho người, tài sản, thiết bị, công trình và các công trình lân cận. - Hạng mục công trình, công trình xây dựng hoàn thành chỉ được phép đưa vào khai thác, sử dụng sau khi được nghiệm thu bảo đảm yêu cầu của thiết kế xây dựng, tiêu chuẩn áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật cho công trình, các yêu cầu của hợp đồng xây dựng và quy định của pháp luật có liên quan. - Nhà thầu khi tham gia hoạt động xây dựng phải có đủ điều kiện năng lực theo quy định, phải có biện pháp tự quản lý chất lượng các công việc xây dựng do mình thực hiện, Nhà thầu chính hoặc tổng thầu có trách nhiệm quản lý chất lượng công việc do nhà thầu phụ thực hiện.
- Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức quản lý chất lượng công trình phù hợp với hình thức đầu tư, hình thức quản lý dự án, hình thức giao thầu, quy mô và nguồn vốn đầu tư trong quá trình thực hiện đầu tư công trình xây dựng theo quy định của Nghị định này. Chủ đầu tư được quyền tự thực hiện các hoạt động xây dựng nếu đủ điều kiện năng lực theo quy định của pháp luật. - Cơ quan chuyên môn về xây dựng hướng dẫn, kiểm tra công tác quản lý chất lượng của các tổ chức, cá nhân tham gia công trình xây dựng; thẩm định thiết kế, kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng, tổ chức thực hiện giám định chất lượng công trình xây dựng; kiến nghị và xử lý các vi phạm về chất lượng công trình xây dựng theo quy định của pháp luật. - Các chủ thể tham gia hoạt động đầu tư xây dựng quy định tại Khoản 3, Khoản 4 và Khoản 5 Điều này chịu trách nhiệm về chất lượng các công việc do mình thực hiện.
Quản lý chất lƣợng công tác khảo sát - Chất lượng sản phẩm khảo sát xây dựng phải phù hợp với nhiệm vụ khảo 7 sát, phương án kỹ thuật khảo sát xây dựng được chủ đầu tư phê duyệt và được kiểm tra, giám sát, nghiệm thu theo qui định. - Nhà thầu khảo sát có trách nhiệm bố trí đủ người có kinh nghiệm và chuyên môn phù hợp để thực hiện khảo sát theo quy định của hợp đồng xây dựng và các quy định của các văn bản quy phạm pháp luật; tuân thủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn, các yêu cầu kỹ thuật hiện hành. Bảo đảm an toàn, bảo vệ môi trường trong quá trình thực hiện; cử người có đủ điều kiện năng lực để làm chủ nhiệm khảo sát và tổ chức thực hiện biện pháp kiểm soát chất lượng quy định tại phương án kỹ thuật khảo sát xây dựng. - Nhà thầu khảo sát có trách nhiệm đề xuất, bổ sung nhiệm vụ khảo sát xây dụng khi phát hiện yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến giải pháp thiết kế và đảm bảo nội dung báo cáo kết quả khảo sát phải bảo đảm tính trung thực, khách quan, phản ánh đúng thực tế và phải được phê duyệt.
- Nhà thầu khảo sát chịu trách nhiệm về kết quả, chất lượng khảo sát xây dựng; chịu trách nhiệm về quản lý chất lượng khảo sát của nhà thầu phụ (nếu có) và kết quả khảo sát của nhà thầu phụ.