Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP HUYỆN 1. Các khái niệm liên quan 1. Công chức cấp huyện 1. Định nghĩa Hiện nay, khái niệm công chức được nhìn nhận ở nhiều khía cạnh khác nhau nên có nhiều cách hiểu khác nhau: Theo Từ điển tiếng Việt, “Công chức là người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong cơ quan nhà nước, hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [36].
Đây là định nghĩa rất chung “Công chức là người làm việc trong các cơ quan nhà nước”. Theo đó, công chức có nghĩa vụ chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thừa hành công vụ của mình và có trách nhiệm liên quan đến việc thi hành công vụ của cấp dưới quyền. Ở nước ta hiện nay, theo Điều 4 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức năm 2019 đã quy định rõ: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp quận; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; Công chức cấp phường là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp phường, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước [28, tr. Tại khoản 1 Điều 34 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức năm 2019, “căn cứ vào ngạch công chức” đã được đổi thành “căn cứ vào lĩnh vực ngành, nghề, chuyên môn, nghiệp vụ” và CBCC được phân thành “Công chức loại A gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương; 8 Công chức loại B gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương; Công chức loại C gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc tương đương; Công chức loại D gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc tương đương và ngạch nhân viên; Công chức loại E là người được bổ nhiệm vào ngạch nhân viên.
Ngạch khác theo quy định của Chính phủ [28]. Như vậy, kể từ 01/7/2020, sau khi Chính phủ quy định ngạch công chức thì ngạch công chức có 06 ngạch, tăng 01 ngạch so với quy định tại Luật cán bộ, công chức năm 2008. Đến nay, Chính phủ chưa có văn bản nào quy định chi tiết về “ngạch khác” vừa được bổ sung này mà mới chỉ lên kế hoạch xây dựng các Nghị định hướng dẫn Luật sửa đổi tại Quyết định 69/QĐ-BNV. Theo đó, căn cứ vào lĩnh vực ngành, nghề, chuyên môn, nghiệp vụ, công chức được phân loại theo: (i) Ngạch công chức tương ứng với các ngạch chuyên viên cao cấp, (ii) chuyên viên chính, (iii) chuyên viên, (iv) cán sự, (v) nhân viên và (vi) ngạch khác.
Căn cứ vào vị trí công tác, công chức được phân loại thành: (i) Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý và Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý. Từ những khái niệm và phân tích ở trên, tác giả cho rằng, “Công chức là những người được Nhà Nước tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên, làm việc liên tục trong cơ quan nhà nước, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Tiêu chí để được xác định là công chức gắn liền với cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh. Những cá nhân đủ các tiêu chí theo quy định của công chức mà được tuyển dụng thông qua quy chế thi tuyển hoặc xét tuyển vào làm việc trong các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh thì được gọi là công chức.
Công chức là những cá nhân được tuyển dụng lâu dài, hoạt động của họ gắn liền với quyền lực công hoặc quyền hạn 9 hành chính nhất định được cơ quan có thẩm quyền trao cho và chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Việc quy định công chức trong phạm vi như vậy xuất phát từ mối quan hệ liên thông giữa các cơ quan của Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị. So với một số nước trên thế giới, đây là điểm đặc thù nhưng lại phù hợp với điều kiện cụ thể và thể chế chính trị của Việt Nam. Số lượng cán bộ, công chức ở Việt Nam lớn, quy mô mỗi năm đều tăng mà không có một chuẩn định lượng tương đối sát với nhu cầu thực tế, do đó bộ máy Nhà nước ngày càng có xu hướng “phình to”, mục tiêu tinh giản biên chế trong bộ máy Nhà nước khó thực hiện được.
Về trình độ và chất lượng cán bộ, công chức không đồng đều giữa các tỉnh, thành phố, vùng miền trong cả nước, đặc biệt đối với các địa phương vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chưa cao. Một số lượng không nhỏ cán bộ, công chức không đáp ứng được yêu cầu công việc làm ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động công vụ. Đội ngũ công chức cấp huyện Đội ngũ là khái niệm được sử dụng phổ biến trong các cơ quan, tổ chức như: đội ngũ cán bộ công nhân viên chức, đội ngũ cán bộ quản lý.Theo từ điển Tiếng Việt thì “đội ngũ được hiểu là một tập hợp số lượng người nhất định có cùng chức năng, nhiệm vụ, nghề nghiệp” [32, tr. Theo Hoàng Phê, khái niệm “đội ngũ” có 02 (hai) nghĩa, đó là: (i) “khối đông người được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng có quy củ” và (ii) “tập hợp một số đông người có cùng chức năng hoặc nghề nghiệp” [25].
Trong đề tài này, khái niệm đội ngũ được hiểu theo nghĩa thứ hai, tức là “Tập hợp một số đông người có cùng chức năng, nhiệm vụ hoặc nghề nghiệp”. Đội ngũ của tổ chức cũng là NNL trong tổ chức đó, gắn liền với công tác xây dựng, phát triển đội ngũ nói chung và đội ngũ công chức nói riêng. Có thể hiểu, “đội ngũ công chức là tập hợp toàn thể những người được Nhà Nước tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên, làm việc liên tục trong cơ quan nhà nước, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Từ khái niệm đội ngũ công chức, có thể đưa ra khái niệm “đội ngũ công 10 chức cấp huyện” là “tập hợp toàn thể những người được Nhà Nước tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên, làm việc liên tục tại các cơ quan cấp huyện, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.
Chất lượng đội ngũ công chức cấp huyện Chất lượng đội ngũ công chức là chất lượng của tập hợp toàn thể những người được Nhà Nước tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên, làm việc liên tục trong cơ quan nhà nước trong quá trình đáp ứng yêu cầu của nhân dân và các bên có liên quan. Đó chính là chất lượng lao động và tinh thần phục vụ nhân dân của công chức trong thực thi công vụ. Chất lượng công chức là đặc tính bên trong của công chức, có được do quá trình tích lũy trong thực tế, trong đào tạo, đáp ứng yêu cầu của công việc trong những điều kiện cụ thể. Theo đó, “Chất lượng đội ngũ công chức có thể hiểu là khả năng giải quyết các vấn đề thuộc tất cả các lĩnh vực, khả năng thỏa mãn các yêu cầu của tổ chức, cá nhân (khách hàng) về cung ứng các dịch vụ hành chính”.
Tiêu chí để đánh giá chất lượng đội ngũ công chức cũng đa dạng. Có thể được đánh giá dựa vào (i) Tỷ lệ giải quyết hồ sơ đảm bảo đúng quy định về thời gian, quy trình, thủ tục; (ii) Sự đo lường về mức độ thỏa mãn của người dân khi hưởng thụ dịch vụ hành chính liên quan đến các yếu tố, như sự hài lòng về thái độ phục vụ, sự hài lòng về thời gian giải quyết công việc của người dân. Bên cạnh đó, chất lượng đội ngũ công chức thể hiện ở mối quan hệ phối hợp, hợp tác giữa các yếu tố, các thành viên cấu thành nên bản chất bên trong của công chức hoặc phụ thuộc vào chất lượng của từng công chức trong hệ thống đó, được thể hiện ở trình độ chuyên môn, sự hiểu biết về chính trị, xã hội, phẩm chất đạo đức, khả năng thích nghi với sự chuyển đổi của nền kinh tế. Chất lượng công chức được phản ánh thông qua các tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ, tin học, các kỹ năng, kinh nghiệm trong quản lý, thái độ chính trị, đạo đức của đội ngũ công chức.
Như vậy, “Chất lượng đội ngũ công chức là chất lượng hoạt động công vụ của công chức, thể hiện ở tiêu chuẩn, tiêu chí về năng lực thực thi nhiệm vụ, về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, văn hóa ứng xử với người dân, kỹ năng nghề nghiệp, kinh nghiệm công tác, thái độ chính trị, đạo đức, tình trạng sức khỏe của 11 công chức trong thực thi công vụ nhằm thỏa mãn các yêu cầu của tổ chức, cá nhân (khách hàng) về cung ứng các dịch vụ hành chính”. Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức Như đã phân tích ở trên, chất lượng đội ngũ công chức được thể hiện thông qua hoạt động của bộ máy chính quyền nhà nước, ở việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của đơn vị. Theo đó, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng từng công chức đáp ứng đòi hỏi về NNL cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển. Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức là một yếu tố vô cùng quan trọng trong việc hoàn thiện bản thân trong mỗi người công chức.