phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương, 7 tiết. 9 NỘI DUNG Chƣơng 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP XÃ VÀ CHẤT LƢỢNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP XÃ – KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM 1. Khái niệm hệ thống chính trị cấp xã * Khái niệm hệ thống chính trị Chính trị là một hiện tượng lịch sử, nó có quá trình ra đời, tồn tại và mất đi.
chính trị chỉ tồn tại khi xã hội có giai cấp và nhà nước. Khái niệm hệ thống chính trị ra đời ở thời kỳ hiện đại, nó là sự phản ánh chính trị hiện đại. Mặc dù đến thời hiện đại, khái niệm hệ thống chính trị mới ra đời, nhưng sự hiểu biết về nó không kém phần đa dạng, phong phú đến mức mà khó có thể thống kê hết được những sự hiểu biết đó. Chẳng hạn, ở các nước xây dựng chủ nghĩa xã hội trước đây, quan niệm phổ biến xem hệ thống chính trị chỉ bao gồm những tổ chức chính trị - xã hội mang bản chất của giai cấp cầm quyền nhằm phục vụ cho quyền lực chính trị của giai cấp đó.
Quan điểm này đã đồng nhất phạm trù “hệ thống chính trị” với phạm trù “hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền”. Từ đó, cho rằng hệ thống chính trị trong chủ nghĩa tư bản chính là hệ thống chuyên chính tư sản, còn hệ thống chính trị chủ nghĩa xã hội là hệ thống chuyên chính vô sản. ở Việt Nam trước và một số năm đầu đổi mới, chúng ta chưa dùng khái niệm hệ thống chính trị mà vẫn dùng một cách phổ biến khái niệm chuyên chính vô sản để chỉ hệ thống và cơ cấu các cơ quan quyền lực lãnh đạo và quản lý xã hội. Nhận thức là một quá trình.
Trước đây như trên đã nêu về sự đồng nhất hai phạm trù: hệ thống chính trị và hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền. Điều đó thể hiện sự nhận thức ấy vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của quan điểm quá nhấn mạnh cái giai cấp trong chính trị mà chưa thấy hết diện mạo của các dân tộc, cái nhân loại trong chi phối chính trị. Sau này xuất hiện quan niệm về hệ 10 thống chính trị toàn diện hơn, rộng hơn phản ánh rõ hơn bản chất của chính trị. Chẳng hạn, quan niệm xem hệ thống chính trị là một phạm trù rộng hơn phạm trù hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền.
Hai phạm trù này quan hệ bao hàm nhau (phạm trù hệ thống chính trị bao hàm phạm trù hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền) hay lệ thuộc (phạm trù hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền lệ thuộc phạm trù hệ thống chính trị). Như vậy, trong hệ thống chính trị ngoài hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền-bộ phận cơ bản nhất, quan trọng nhất, quy định bản chất của toàn bộ hệ thống chính trị trong xã hội tương ứng, còn có các tổ chức, các thiết chế chính trị hợp pháp khác. Tuy nhiên, quan niệm như vậy cũng mới chỉ nhấn mạnh được về hệ thống tổ chức (thiết chế) tức là các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị mà chưa chỉ ra được hệ thống các mối quan hệ trong hoạt động chính trị theo chức năng, nhiệm vụ, đồng thời còn là hệ thống các cấp độ (Trung ương - địa phương - cơ sở) nhằm tác động và điều chỉnh lẫn nhau và điều chỉnh mọi quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội giữa các dân tộc trong cộng đồng xã hội, giữa các yếu tố xã hội, tập thể và cá nhân, về vấn đề quyền lực, về định hướng, đường lối, chủ trương, chính sách qui định mục tiêu, phương hướng nội dung phát triển xã hội. Chính trị là một hiện tượng lịch sử và việc thực hiện quyền lực chính trị phải có hệ thống các thiết chế tương ứng.
Cả hai xu hướng trên đều chưa đáp ứng với thực tiễn chính trị và mục đích nhận thức của chính trị học. Căn cứ việc đáp ứng hai yêu cầu: Một là, phục vụ cho mục đích nhận thức về hệ thống các tổ chức, thiết chế có vai trò thực tế và được thừa nhận trong việc thực hiện quyền lực chính trị hoặc tham gia quyền lực chính trị một cách thường xuyên. Hai là, phải đủ tính khái quát để không chỉ phản ánh hiện thực chính trị ở một hay một nhóm nước mà còn phản ánh được hiện thực chính trị ở nhiều quốc gia có chế độ chính trị- xã hội khác nhau. Vũ Hoàng Công xác định: “Hệ thống chính trị là một bộ phận của cấu trúc 11 thượng tầng xã hội, bao gồm các tổ chức, các thiết chế hợp pháp, có quan hệ về mục đích, chức năng thực hiện hoặc tham gia thực hiện quyền lực chính trị”[13, tr.Xem xét việc nghiên cứu HTCT mà thực chất là nghiên cứu hệ thống các tổ chức, các thiết chế có quyền lực chính trị, hoặc tham gia vào quyền lực chính trị, thì có hai khái niệm đáng chú ý dưới đây: Tập thể tác giả của Khoa Chính trị học - Học viện Báo chí và tuyên truyền đưa ra định nghĩa: “Hệ thống tổ chức quyền lực là hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội, các đảng chính trị hợp pháp và nhà nước cùng các quan hệ tác động qua lại giữa các yếu tố đó nhằm tham gia vào quá trình hình thành các chính sách nhà nước, thực thi các quyền lực chính trị đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của xã hội và bảo đảm quyền thống trị của giai cấp thống trị hoặc quyền làm chủ của nhân dân lao động (trong các nước xã hội chủ nghĩa)” [36, tr.
Tập thể tác giả của Viện Khoa học Chính trị - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đưa ra định nghĩa: “Hệ thống chính trị là một bộ phận kiến trúc thượng tầng xã hội, bao gồm các tổ chức, các thiết chế có quan hệ với nhau về mặt mục đích, chức năng trong việc thực hiện hoặc tham gia thực hiện quyền lực chính trị, trong việc đưa ra các quyết định chính trị”[47, tr. Kế thừa nhiều giá trị ở các quan niệm trên, dưới góc nhìn của chính trị học theo quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, có thể hiểu: Hệ thống chính trị là một phạm trù thuộc kiến trúc thượng tầng dùng để chỉ một chỉnh thể hệ thống các tổ chức, các thiết chế chính trị-xã hội và các mối quan hệ giữa chúng với nhau trong và giữa các cấp độ tổ chức và hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ hợp thành cơ chế chính trị của một chế độ xã hội nhằm đảm bảo việc thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp thống trị. * Khái niệm hệ thống chính trị cấp xã Muốn đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở là vấn đề rất quan trọng và cần thiết. Trước tiên là phải nhận thức đúng về cơ sở và vị trí, vai trò của cơ sở.
Lớp đối tượng (ngoại diên) mà khái niệm cơ sở phản ánh đó 12 chính là toàn bộ những xã, thị trấn đang tồn tại thực trên đất nước ta với những tên gọi, địa dư hành chính, pháp lý chính trị đầy đủ của nó. Mặt khác, về mặt nội hàm tương ứng của khái niệm này phải được hiểu các xã, thị trấn là cơ sở xã hội của chính trị, của chế độ chính trị, là cơ sở của thể chế chính trị, của thể chế nhà nước. Xã, thị trấn được xét ở đây tồn tại với tư cách là một cấp quản lý trong hệ thống bốn cấp quản lý hành chính nhà nước hiện hành ở nước ta- cấp cơ sở. Như vậy, cơ sở gồm xã, thị trấn là thuộc về cấp cơ sở của hệ thống quản lý hành chính bốn cấp.
Khi xét hệ thống chính trị ở phần trên với tư cách là một chỉnh thể thống nhất, duy nhất có bốn cấp độ thì cấp cơ sở là một cấp của hệ thống chính trị hay cấp độ của hệ thống chính trị. Tuy nhiên cấp độ cơ sở của hệ thống chính trị còn bao gồm cả phường. Nhưng ở đây, luận văn chỉ đề cập đối tượng là: xã, thị trấn. Dựa vào những nét khái quát chung nhất về hệ thống chính trị như đã nêu trên theo quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, có thể hiểu: Hệ thống chính trị cấp xã là toàn bộ các thiết chế chính trị cấp cơ sở- xã, phường, thị trấn (tổ chức đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân của xã, thị trấn và mối quan hệ giữa chúng) được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc xác định, gắn bó hữu cơ, thống nhất với nhau về mục đích, chức năng, nhiệm vụ nhằm thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở.
Đặc điểm của hệ thống chính trị cấp xã Thứ nhất, hệ thống chính trị cấp xã là cấp thấp nhất trong hệ thống chính trị nước ta hiện nay. Đây là đặc điểm xét theo khía cạnh quan hệ thứ bậc mang tính pháp lý của chỉnh thể hệ thống chính trị duy nhất thống nhất ở nước ta hiện nay. Song quyết không phải cấp thấp nhất là cấp kém quan trọng nhất. Mà thậm chí, xét theo khía cạnh thực thi mọi đường lối chính sách của Đảng và nhà nước thì đây lại là cấp quan trọng nhất.
Bởi vì, mọi đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước cuối cùng có thực hiện đựơc hay không lại là ở cơ sở. 13 Thứ hai, hệ thống chính trị ở cấp xã có bộ máy đơn giản nhất và cán bộ biên chế được hưởng sinh hoạt phí thấp nhất. Theo các quy định hiện hành thì hệ thống chính trị ở cơ sở xã, thị trấn được biên chế và hưởng sinh hoạt phí không quá 23 người (Theo Nghị Định 34 – NĐ/CP). Bộ máy đơn giản nhất nhưng không phải là đơn giản nhất trong vận hành bộ máy.
Các mối quan hệ ở đây không phải là không phức tạp. Tính phức tạp ở đây được quy định bởi các yếu tố tông tộc, gia tộc, dòng họ, tôn giáo, văn hoá, truyền thống… Thứ ba, hệ thống chính trị ở cấp xã là cấp có đội ngũ cán bộ biến động nhất, ít chuyên nghiệp nhất, trình độ học vấn và văn hoá, trình độ lý luận và chuyên môn thấp nhất. Đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị ở cơ sở biến động nhất là vì do cơ chế họ không được biên chế cố định mà chủ yếu lệ thuộc vào lá phiếu bầu chọn trong các cuộc bầu cử nên thời gian này làm cán bộ, thời gian sau làm dân thường.