CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG 1. Cơ sở lý thuyết về cho vay tiêu dùng 1. Khái niệm, đặc điểm và đối tượng, điều kiện để vay tiêu dùng 1. Khái niệm cho vay tiêu dùng Theo QĐ 1627/2001/QĐ-NHNN về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, cho vay được hiểu như sau “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó, tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền sử dụng vào các mục đích và trong thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi”.
Trong đó hoạt động tiêu dùng được hiểu “Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng bao gồm cá nhân và hộ gia đình”. Đây là một nguồn tài chính quan trọng giúp những người này trang trải nhu cầu nhà ở, đồ dùng gia đình và phương tiện di chuyển. Bên cạnh đó những chi tiêu cho giáo dục, y tế và du lịch, cũng có thể được tài trợ bởi cho vay tiêu dùng. Theo TT 43/2016/TT-NHNN về quy định cho vay tiêu dùng của công ty tài chính được hiểu như sau: “Cho vay tiêu dùng là việc công ty tài chính cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng là cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu vốn mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng của khách hàng, gia đình của khách hàng đó với tổng dư nợ cho vay tiêu dùng đối với một khách hàng tại công ty tài chính đó không vượt quá 100.
Mức tổng dư nợ quy định tại khoản này không áp dụng đối với cho vay tiêu dùng để mua ôtô và sử dụng ôtô đó làm tài sản bảo đảm cho chính khoản vay đó theo quy định của pháp luật”. Đây là quy định cụ thể về hình thức cho vay và khối lượng tối đa được phép giải ngân đối với từng đối tượng khách hàng, làm tiền đề cho việc hoạt động của các CTTC. Theo Nghị định số 39/2014/NĐ-CP tín dụng tiêu dùng được hiểu là “hình thức cấp tín dụng cho mục đích tiêu dùng của cá nhân bằng nghiệp vụ cho vay bao gồm cho vay trả góp, cho vay tiêu dùng và phát hành thẻ tín dụng”. Quy định rõ về hình thức cho vay tiêu dùng được hiểu ra sao nhằm giúp các cán bộ, chuyên viên và người sử dụng sản phẩm dịch vụ tránh được nhầm lẫn trong quá trình thực hiện và sử dụng các sản phẩm, dịch vụ.
Đặc điểm hoạt động cho vay tiêu dùng Theo thông tư 39/2017/TT-NHNN có hiệu lực từ 15/03/2017 thì hạn chế đối tượng cho vay tiêu dùng chỉ còn đối tượng khách hàng cá nhân và loại trừ đối tượng hộ gia đình cho phù hợp với Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định “chủ thể tham gia các quan hệ dân sự chỉ bao gồm pháp nhân và cá nhân”. Phương thức cho vay các tổ chức tín dụng thỏa thuận với khách hàng việc áp dụng các phương thức cho vay tiêu dùng như cho vay từng lần hay cho vay theo hạn mức. Cho vay từng lần, mỗi lần cho vay, tổ chức tài chính và khách hàng thực hiện thủ tục cho vay và ký kết hợp đồng cho vay tiêu dùng. Cho vay theo hạn mức, tổ chức tài chính xác định và thỏa thuận với khách hàng một mức dư nợ cho vay tối đa được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định.
Trong hạn mức cho vay, tổ chức tài chính thực hiện cho vay từng lần. Thường xuyên, tổ chức tài chính xem xét, xác định lại mức dư nợ cho vay tối đa và thời gian duy trì mức dư nợ này phù hợp với khả năng tài chính của khách hàng. Thời hạn cho vay tương đối ngắn với các sản phẩm không có tài sản đảm bảo, chỉ từ 1 tháng cho đến 5 năm, nhằm phục vụ cho nhu cầu đời sống nhu cầu phát sinh hàng ngày của đại đa số khách hàng, Mặc dù các khoản cho vay tiêu dùng luôn được đánh giá là đem lại nhiều lợi nhuận cho do lãi suất cho vay thường cao hơn so với lãi suất huy động từ các nguồn khác nhau để thực hiện cho vay do cho vay tiêu dùng có độ rủi ro cao bởi nguồn trả nợ của người vay có thể biến động lớn, nó phụ thuộc vào quá trình làm việc, kinh nghiệm, tài năng và sức khỏe của người vay… Nếu người vay bị chết, ốm hoặc mất việc làm sẽ rất kho thu hồi lại được nợ. Lãi suất cho vay tiêu dùng thường không thay đổi dưới những tác động của những điều kiện từ môi trường bên ngoài trong suốt thời hạn vay như trong trường hợp cho vay đối với các doanh nghiệp.
Điều này cũng có những bất lợi nếu như lãi suất huy động tăng lên đáng kể. Tuy nhiên các ngân hàng thường định giá các khoản vay tiêu dùng ở một mức cao để có thể phòng tránh rủi ro này. Các khoản cho vay tiêu dùng có xu hướng nhạy cảm trước các tác động của chu kì kinh tế. Trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế người tiêu dùng thường có cái nhìn lạc quan về tương lai vì vậy họ thường chi tiêu nhiều.
Trong giai đoạn kinh tế suy thoái thì 6 các cá nhân thường có cái nhìn bi quan về tương lai đặc biệt là khi họ cảm thấy nạn thất nghiệp gia tăng và ngay lập tức cắt giảm nhu cầu vay ngân hàng. Hoạt động chủ yếu là cho vay trả góp vốn và và lãi hàng tháng. Lãi suất cho vay tiêu dùng thường ít co dãn so với nhu cầu vay. Người đi vay tiêu dùng chỉ quan tâm tới khoản thanh toán hàng tháng họ phải trả ngân hàng là bao nhiêu.
Quy mô các khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lớn. Các nhân tố trình độ học vấn và mức thu nhập đều có ảnh hưởng rõ rệt đến hạn mức vay. Những người có mức thu nhập cao hơn mức bình quân thường có xu hướng vay mức cao hơn tổng thu nhập hằng năm của họ. Những người có trình độ học vấn cao (thông thường là những người có nhiều năm đào tạo ở bậc trên phổ thông đồng thời là trụ cột gia đình) thường quyết định vay tiền trên cơ sở cân nhắc kĩ lưỡng thu nhập của mình.
Đối với trường hợp này, món vay được coi như phương tiện để đạt được mức sống như mong muốn hơn là một cơ sở an toàn trong những trường hợp khẩn cấp. Bản chất của cho vay tiêu dùng là ứng trước, trả dần, là động lực để người vay kiếm thêm thu nhập và tiết kiệm, đảm bảo nghĩa vụ nợ, họ lo dành dụm cho những mục tiêu lớn, không chi tiêu vô ích. Khác với cho vay kinh doanh, CVTD thiên về giám sát mục đích sử dụng món vay và kiểm soát thu nhập của người vay hơn. Đối tượng cho vay tiêu dùng Đối tượng khách hàng của nhóm ngân hàng giới hạn trong nhóm chuẩn, có lịch sử tín dụng tốt, không phát sinh dư nợ nhóm 2 trở lên, có thu nhập bình quân hàng tháng từ 6 đến 9 triệu trở lên tùy ngân hàng, tập trung trong độ tuổi từ 15 đến 65 tuổi có tài khoản ngân hàng.
Đối tượng của nhóm công ty tài chính là khách hàng đại chúng có thu nhập trung bình, thấp như công nhân, lao động phổ thông, hoặc không có thu nhập như học sinh, sinh viên, khó chứng minh thu nhập. Đặc điểm của các đối tượng này là chưa có lịch sử tín dụng hoặc điểm tín dụng thấp, khó hoặc không thể, ngại tiếp cận dịch vụ ngân hàng. Đối tượng của nhóm Công ty hoạt động tài chính tiêu dùng trực tuyến là khách hàng trực tuyến hoặc công nhân, người lao động có thu nhập từ 2 triệu trở lên, không đáp ứng đủ điều kiện của 2 nhóm trên. Điều kiện để cho vay tiêu dùng Theo QĐ 1627/2001/QĐ-NHNN về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, tổ chức tín dụng xem xét và quyết định cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.
Đối với khách hàng vay là cá nhân Việt Nam, pháp nhân phải có năng lực pháp luật dân sự, cá nhân và chủ doanh nghiệp tư nhân phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, đại diện của hộ gia đình phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, đại diện của tổ hợp tác phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. Đối với khách hàng vay là cá nhân nước ngoài, phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật của nước mà pháp nhân đó có quốc tịch hoặc cá nhân đó là công dân, nếu pháp luật nước ngoài đó được Bộ Luật Dân sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam quy định hoặc được điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia quy định, mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp, có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết, có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả, hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp với quy định của pháp luật, thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Tầm quan trọng của cho vay tiêu dùng 1. Đối với người tiêu dùng Đối với người tiêu dùng, nhờ cho vay tiêu dùng họ được hưởng các tiện ích trước khi tích lũy đủ tiền và đặc biệt nó rất cần thiết cho khi cần chi tiêu các khoản chi cấp bách, nhu cầu về giáo dục và y tế.
Tuy nhiên, nếu lạm dụng việc đi vay để tiêu dùng thì cũng rất tai hại nếu người đi vay chi tiêu vượt quá mức cho phép, làm giảm khả năng tiết kiệm hoặc chi tiêu trong tương lai, nghiêm trọng hơn là nếu mất khả năng chi trả thì sẽ gặp nhiều rắc rối và phiền toái trong các hoạt động thường ngày. Đối với các tổ chức cho vay tiêu dùng 8 Hoạt động cho vay là hoạt động chứa nhiều rủi ro tiềm ẩn, nhưng là hoạt động kinh doanh chủ yếu của các tổ chức tài chính như ngân hàng, các công ty tài chính, hoặc công ty Hoạt động tài chính tiêu dùng trực tuyến để tạo ra lợi nhuận.