LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài An cư lạc nghiệp là một trong những quan điểm truyền thống của người dân Việt Nam nói riêng và người dân Châu Á nói chung. Bên cạnh đó, quan điểm tiêu dùng hiện đại hiện nay cũng khác so với các thế hệ trước. Thay vì tích góp đủ tiền để mua nhà ở, người dân đã tìm đến các sản phẩm ngân hàng để thỏa mãn nhu cầu ổn định chỗ ở của mình.
Do đó, hoạt động cho vay mua nhà ở đã có sự phát triển mạnh mẽ. Một mặt, việc cho vay mua nhà ở đáp ứng được nhu cầu của người dân, góp phần phát triển nền kinh tế xã hội, mặt khác, góp phần không nhỏ vào sự phát triển của thị trường bất động sản. Trong những năm gần đây, hoạt động ngân hàng bán lẻ được các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam đẩy mạnh phát triển. Hoạt động ngân hàng bán lẻ tại Việt Nam đã và đang được cung cấp đầy đủ và phong phú đa dạng các sản phẩm, cùng với sự phát triển và hỗ trợ mạnh mẽ của yếu tố công nghệ.
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam nói chung và BIDV chi nhánh Bắc Hà Nội nói riêng, trong những năm gần đây, bên cạnh việc duy trì thị phần đối với hoạt động bán buôn truyền thống, đã chú trọng phát triển hoạt động bán lẻ. Dưới sự chỉ đạo sát sao của các cấp lãnh đạo, hoạt động bán lẻ của hệ thống BIDV đã không ngừng được mở rộng và phát triển mạnh mẽ, đạt được những thành tích rất đáng ghi nhận. Trong cơ cấu sản phẩm bán lẻ tại BIDV chi nhánh Bắc Hà Nội, hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân nói chung và cho vay nhu cầu nhà ở đối với khách hàng cá nhân nói riêng chiếm tỷ trọng khá lớn và đem lại nguồn lợi nhuận đáng kể cho Chi nhánh trong những năm vừa qua. Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng của quy mô dư nợ cho vay nhu cầu nhà ở đối với khách hàng cá nhân cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro tín dụng.Cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn tại Mỹ, sự biến động của thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản tại Việt Nam là những ví dụ điển hình cho thấy nguy cơ rủi ro đối với khách hàng cá nhân.Mặt khác hầu hết các NHTM mới chỉ quan tâm đến việc mở rộng cho vay nhu cầu nhà ở đối 2 với khách hàng cá nhân mà ít chú ý tới việc nâng cao chất lượng loại hình cho vay này.
Do đó, làm thế nào để nâng cao chất lượng cho vay nhu cầu nhà ở đối với khách hàng cá nhân nhằm hạn chế rủi ro và tối đa hóa lợi ích là một yêu cầu bức xúc hiện nay. Trong thời gian qua, BIDV Bắc Hà Nội đã tăng cường mở rộng cho vay loại hình này và đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên việc mở rộng loại hình này cũng kèm theo những rủi ro tín dụng khi tỷ lệ nợ xấu chiếm tỷ trọng cao, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng của hoạt động cho vay nhu cầu nhà ở đối với khách hàng cá nhân tại chi nhánh. Bản thân tôi hiện nay đang công tác tại Phòng khách hàng cá nhân tại Chi nhánh, do đó, xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết kể trên, tôi lựa chọn đề tài: “ Nâng cao chất lượng cho vay nhu cầu nhà ở đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội” làm luận văn nghiên cứu của mình.
Mục tiêu nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu về hoạt động cho vay cá nhân mua nhà ở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội, luận văn hướng đến những mục tiêu cụ thể sau: - Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động và chất lượng cho vay nhu cầu nhà ở đối với KHCN tại các ngân hàng thương mại. - Đánh giá thực trạng chất lượng hoạt động cho vay nhu cầu nhà ở đối với KHCN hiện nay tại BIDV Bắc Hà Nội. - Đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng hoạt động cho vay nhu cầu nhà ở đối với KHCN tại BIDV Bắc Hà Nội. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Chất lượng cho vay nhu cầu nhà ở đối với khách hàng cá nhân của NHTM.
3 Phạm vi nghiên cứu của luận văn là: Luận văn tập trung nghiên cứu về chất lượng cho vay nhu cầu nhà ở đối với KHCN tại BIDV Bắc Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2012 đến 30/11/2015. Phương pháp nghiên cứu Trong luận văn này,tác giả sử dụng phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp, so sánh và tư duy lôgic được để làm rõ nét nội dung bài viết.trong nghiên cứu lý luận cũng như trong đánh giá thực tiễn và đề xuất giải pháp. Kết cấu luận văn Ngoài phần lời nói đầu, kết luận, tóm tắt, danh mục các tài liệu tham khảo, mục lục và các bảng biểu, kết cấu của đề tài bao gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng cho vay nhu cầu nhà ở tại ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng chất lượng cho vay nhu cầu nhà ở đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội. Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay nhu cầu nhà ở đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội.
4 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY NHU CẦU NHÀ Ở ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cho vay nhu cầu nhà ở đối với khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 1.Cho vay khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại 1. khái niệm: Cho vay luôn là một nghiệp vụ rất quan trọng của NHTM bên cạnh các nghiệp vụ khác như huy động vốn,thanh toán quốc tế, đầu tư liên kết,….Hoạt động này mang lại chủ yếu lợi nhuận cho các NHTM. Nếu phân loại hoạt động cho vay của NHTM theo đối tượng khách hàng thì hoạt động này bao gồm cho vay khách hàng doanh nghiệp, cho vay tổ chức tài chính và cho vay khách hàng cá nhân.
Với đối tượng nghiên cứu của đề tài này là cho vay nhu cầu nhà ở đối với KHCN của NHTM, nên tác giả sẽ xem xét đến đối tượng cho vay KHCN của NHTM.Vậy khách hàng cá nhân có thể biết đến như sau: “Khách hàng cá nhân của NHTM là cá nhân có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật; có mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp, có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết; phương án kinh doanh, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp với quy định của pháp 5 luật; thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.” ( Nguyễn Minh Kiều,2013) Theo qui chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng, ban hành theo quyết định số 1627/2011/ QĐ – NHNN Việt Nam ngày 31/12/2011 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước, qui định như sau: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng , theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một số khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” (NHNN, 2011) Từ hai khái niệm nêu trên, có thể hiểu hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại như sau: Cho vay khách hàng cá nhân là hình thức tài trợ của ngân hàng cho các khách hàng là cá nhân: Đó là quan hệ kinh tế mà trong đó ngân hàng chuyển cho các cá nhân quyền sử dụng một khoản tiền với những điều kiện nhất định được thoả thuận trong hợp đồng nhằm phục vụ mục đích của khách hàng và hoàn trả sau một thời gian theo hợp đồng ký kết giữa hai bên. Các NHTM bên cạnh phát triển các hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp cũng rất chú trọng phát triển cho vay khách hàng cá nhân, vì đây là nguồn thu nhập rất ổn định của NHTM, đáp ứng được nhu cầu thực tế về vốn của các cá nhân nhỏ lẻ trong toàn xã hội.Tùy vào mục đích, chiến lược phát triển mà các NHTM sẽ tạo hướng đi chuyên sâu phục vụ KHCN hoặc khách hàng doanh nghiệp, tạo dấu ấn riêng cho bản thân mỗi ngân hàng. Và quan trọng nhất là giúp đem lại lợi nhuận lớn cho bản thân ngân hàng. Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại: 6 Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân có những đặc điểm riêng khác so với loại hình cho vay khác như sau: - Đối tượng cho vay: là cá nhân.
- Quy mô khoản vay: các khoản cho vay khách hàng cá nhân thông thường có quy mô nhỏ nhưng số lượng khoản vay lớn, do cho vay KHCN đáp ứng nhu cầu của cá nhân nhằm mục đích tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh nhỏ, nên quy mô của một khoản vay tương đối nhỏ so với các tài sản có khác của ngân hàng, số lượng các khoản vay lại rất lớn do đối tượng của cho vay là các cá nhân với số lượng nhiều và nhu cầu tiêu dùng rất đa dạng. - Mục đích vay: nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh nhỏ của cá nhân. Khi nền kinh tế có sự tăng trưởng cao và ổn định, KHCN sẽ có thái độ lạc quan hơn về tương lai, họ kỳ vọng sẽ có khoản thu nhập nhiều hơn trong tương lai và do vậy sẽ thúc đẩy sự chi tiêu cho tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh ở hiện tại. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái người dân thường có xu hướng giảm tiêu dùng, giảm đầu tư vào sản xuất kinh doanh, thay vào đó là sẽ tăng cường tiết kiệm và hạn chế vay mượn từ ngân hàng.
- Rủi ro đối với cho vay KHCN: cho vay KHCN có mức độ rủi ro lớn tại thời điểm thị trường bất động sản bất ổn định. Xuất phát từ các nguồn thu nhập của khách hàng vay vốn, nếu nguồn thu nhập ổn định như từ lương, từ cho thuê bất động sản, cổ tức nhận được từ các doanh nghiệp hoạt động có uy tín,.thì rủi ro sẽ được giảm thiểu. Còn nếu nguồn thu nhập của khách hàng phụ thuộc vào phần lớn các giao dịch bất động sản thì đây thực sự rủi ro cho ngân hàng.