CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CHO VAY VA CHAT LƯỢNG CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ 1. Khái niệm Doanh nghiệp là t6 chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ồn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các HDKD. Tuy vào mục đích thành lập doanh nhiệp mà mỗi doanh nghiệp có mục đích hoạt động khác nhau.
Các doanh nghiệp công ích hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận ngoài ra các doanh nghiệp khác hoạt động đều vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Các loại hình doanh nghiệp này cùng tồn tại, phát triển và cạnh tranh với nhau trên thị trường. Tuy nhiên, dé thuận lợi cho việc quản lý, hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển, người ta thường dựa theo những tiêu thức khác nhau dé phân loại các daonh nghiệp. Cụ thé bao gồm: Dựa vào quan hệ sở hữu về vốn và tài sản thì gồm có: Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp cô phần và doanh nghiệp tư nhân.
Dựa vào mục đích kinh doanh thì bao gồm: DN hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp hoạt động công ích. Dựa vào lĩnh vực hoạt động kinh doanh bao gồm: doanh nghiệp tài chính và doanh nghiệp phi tài chính. Và đặc biệt, tiêu thức hay được sử dụng để phân loại là dựa theo quy mô kinh doanh thì doanh nghiệp được chia ra, bao gồm: doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ. Ở các quốc gia trên thé giới hiện nay, dù là những nước phát trién hay những nước đang phát triển, số lượng các DNVVN cũng ngày càng tăng lên.
Theo cơ quan quản lý doanh nghiệp vừa và nhỏ thì các doanh nghiệp này chiếm hơn 90% số lượng doanh nghiệp trên thế giới và 40-50% GDP của các nước. Tại khu vực APEC, số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm đến 80% và sử dụng khoảng 60% lực lượng lao động. Ở Mỹ, số nhân công được thuê là các DNVVN lực lượng này chiếm trên 97% tổng số hãng kinh doanh, số việc làm mới được tạo ra là khoảng 75% và chiếm 96% tổng số các DN xuất khâu hàng hóa. Còn ở Việt Nam, tỷ trọng các DN này chiếm khoảng 97% trên tổng số DN được thành lập.
Đây là bộ phận năng động, có hiệu quả nhất trong nền kinh tế. Hiện nay, hoạt động của các DNVVN đóng góp hơn 40% GDP, chiếm 29% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, đóng góp 15% tông thu ngân sách. Tuy nhiên, ở mỗi nước khác nhau sẽ có những quan điểm khác nhau về DNVVN, điều này phụ thuộc vào bối cảnh văn hóa, mức độ phát triển kinh tế hay mục đích phân loại DNVVN của từng quốc gia. Tại Úc, doanh nghiệp vừa và nhỏ là DN có số lượng nhân công tối đa không vượt quá 300, còn tại Mỹ số lượng công nhân không quá 1000 công nhân.
Còn theo Ngân hàng Thế Giới (WB) quy định rang DN nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người với tổng doanh thu không quá 3 triệu USD, còn đối với DN vừa có từ 50 đến 300 lao động với tổng doanh thu không vượt quá 15 triệu USD. Và theo Liên Minh Châu Âu (EU), doanh nghiệp vừa và nhỏ là DN có số lượng lao động không vượt quá 250 lao động với tổng tài sản trên 10 triệu Euro và dưới 43 triệu Euro. Bên cạnh đó, khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng có sự khác nhau giữa các nước giữa các nước trong cùng một khu vực. Tại Chi-Lê con số đó là 11 đến 200 người.
Còn tại Mexico, con số là 500 người. Tuy nhiên, ở Việt Nam tiêu chí phân chia DNVVN được chia theo quy mô là chính và chia thành doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và vừa theo điều 6, nghị định số 39/2018/ND - CP, cụ thể như sau: “1, doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản và lĩnh vực Công nghiệp, Xây dựng có số lượng lao động tham gia Bảo hiểm Xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. Doanh nhiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu hang năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. 2, Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thỷ sản và lĩnh vực Công nghiệp, Xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định khoản 1 điều này.
Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực Thương mại, Dịch vụ có số lương lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu hàng năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định khoản 1 điều này. 3, Doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nhiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 điều này. Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mai, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải doanh nghiệp nho, donh nghiệp nghiệp siêu nhỏ theo khoản 1, khoản 2 điều này.” (Nghị định 39/2018/NĐ-CP) Từ định nghĩa trích từ nghị định 39/2018/ND — CP, ta có thể khái quát thành bảng sau: Bảng 1. Phân loại doanh nghiệp theo Nghị định 39/2018/NĐ-CP.
Số lao động Phân loại Tổng tham gia bảo Hoặc tông doanh doanh thu hiểm xã hội nguôn von nghiệp hàng năm bình quân Nông nghiệp, Doanh nghiệp < 200 người < 200 tỷ < 100 tỷ nghiệp xây Doanh nghiệp <10 người |< 3 tỷ đồng| < 3 tỷ đồng dựng siêu nhỏ oa vừa Doanh ` nghiệp < 100 nguoi IỆ ~~ đông x ty < 300 tỷ ~~ đông Xx ty < 100 tỷ Doanh nghiệp < 100 ty < 50 người < 50 tỷ đồng nhỏ đông Doanh nghiệp < 10ty < 10 người < 3 ty đồng siêu nhỏ đồng Nguồn: Nghị định 39/2018/NĐ-CP Như vậy, thông qua quá trình tìm hiểu trên, ta có thé thấy rằng DNVVN là một khái niệm khá là linh động. Tùy vào từng quốc gia và vùng lãnh thổ thậm chí là tại một quốc qua từng thời kỳ thì khái niệm DNVVN cũng có sự điều chỉnh để phù hợp với bối cảnh kinh tế của từng quốc gia theo từng thời kỳ. Trong phạm vi nghiên cứa của đề tài này đề phù hợp với phạm vi và đối tượng nghiên cứu thì khái niệm DNVVN sẽ được xác định theo nghị định 39/2018/NĐ-CP chi tiết xem tại bang phân loại doanh nghiệp theo nghị định 39/2018/ND — CP ở phía trên. Đặc điểm Đa dạng về loại hình sở hữu DNVVN ton tại và phát triển ở mọi hình thức khác nhau như doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vôn đâu tư nước ngoài, công ty cô phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, hợp tác xã.
Điều này giúp đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, sản phẩm trong nền kinh tế. Đồng thời cũng tạo cơ hội việc làm cho tất cả mọi thành phần lao động, thỏa mãn có sự khác nhau về độ tuôi, giới tính, trình độ học vấn. của lao động, làm giảm tỷ lệ thất nghiệp. Bên cạnh đó, nó cũng gây ra không ít khó khăn trong việc quản lý DNVVN của Chính phủ.
Tính năng động và linh hoạt cao Các DNVVN có vốn đầu tư ban đầu khá là thấp, sử dụng ít lao động và chủ yếu là tận dụng các nguồn lực tại chỗ. Do vậy, các DNVVN có thé dé dang hon trong việc chuyên đổi mặt bằng kinh doanh, cũng như chuyền đổi phương thức san xuất, chuyền đổi loại hình DN thậm chí dễ dàng giải thé DN. Vi vậy, các DNVVN sẵn sảng đầu tư vào lĩnh vực mới hoặc lĩnh vực có mức độ rủi ro cao. Vì các DNVVN Có năng lực tài chính thấp nên vốn ban đầu đề thành lập doanh nghiệp thường là vốn chủ sở hữu của các chủ doanh nghiệp, thường là cá nhân nên năng lực tài chính có hạn.
Vì thế trong quá trình sản xuất kinh doanh thường gặp rất nhiều khó khăn do thiếu vốn, do đó họ phải tìm kiếm nhiều nguồn khác nhau như: vay vốn của bạn bè, người thân hoặc đi vay nặng lãi. Bởi vậy nên nguồn vốn của doanh nghiệp thường nhỏ lẻ và thời gian vay mượn ngắn hạn. Đây chính là hạn chế lớn nhất của DNVVN. Điều này gây cho các doanh nghiệp thường lâm vào tình trạng thiếu vốn tram trọng mỗi khi muốn mở rộng thị trường, hay tiễn hành đổi mới, nâng cấp trang thiết bị.
Còn nhiều hạn chế trong khả năng quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của DNVVN Các chủ doanh nghiệp thường là những lao động phổ thông, kỹ thuật viên, kỹ sư tự đứng ra thành lập và vận hành DN. Phần lớn những người chủ DN thường không được đào tạo qua một khoá quản lý chính quy nào, thậm chí có người còn chưa qua một khoá dao tạo nào. Họ là người tham gia trực tiếp vào sản xuất vừa quản lý DN nên mức độ chuyên môn trong quản lý chưa cao. Tuy nhiên, mặc dù trình độ quản lý còn thấp nhưng họ cũng không quan tâm nhiều đến việc dao tạo dé nâng cao năng lực quản lý DN.
Do đó, khả năng quản lý, điều hành các DNVVN hiện nay của các chủ DN thường không được đánh giá cao và bị cho là yếu thế hơn so với các doanh nghiệp nước ngoài. Trình độ tay nghề của người lao động thấp Các chủ DNVVN thường không có đủ khả năng để cạnh tranh với các DN lớn trong việc thu hút các lao động có trình độ và tay nghề cao do khả năng hạn chế về tài chính. Trong khi đó, do kinh phí hạn hẹp hoặc người chủ không muốn đào tạo người lao động, vì vậy người lao động thường có trình độ thấp và kỹ năng làm việc thấp.