Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng cán bộ công chức xã, thị trấn - Chương 2: Thực trạng chất lượng cán bộ, công chức xã, thị trấn trên địa bàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An - Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức xã, thị trấn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƢỢNG CÁN BỘ CÔNG CHỨC XÃ, THỊ TRẤN 1. Lý luận chung về chất lƣợng cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn 1. Một số khái niệm cơ bản Khái niệm Cán bộ, công chức “Cán bộ” là thuật ngữ được du nhập vào Việt Nam từ Trung Quốc, để chỉ những người nòng cốt, người chỉ huy được sử dụng để phân biệt với nhân dân.
Với cách hiểu này, người đọc sẽ hiểu đó là những người có chức vụ, có một vị trí “ lãnh đạo” thì cũng có những quyền hạn nhất định mà nhân dân là những người không có quyền hạn đó [28, tr. “Cán bộ” theo giải thích trong Từ điển Tiếng Việt là người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước [22, tr. Theo cách giải thích này, người đọc có thể cho rằng cán bộ là “ người của nhà nước” và làm những công việc cho Nhà nước. Còn những người làm trong các tổ chức khác thì không được coi là cán bộ.
Theo khoản 1, Điều 4 của Luật Cán bộ, công chức Việt Nam (2008) quy định: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương( gọi chung là cấp tỉnh); ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh ( gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Thuật ngữ “công chức” được xuất phát từ các nước tư bản phương Tây. Cộng hòa Pháp đã xác định: “Công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc trong các công sở gồm các cơ quan hành chính công 9 quyền và các tổ chức dịch vụ công cộng do Nhà nước tổ chức, bao gồm cả Trung ương và địa phương nhưng không kể đến các công chức địa phương, thuộc các hội đồng thuộc địa phương quản lý” [28, tr. Có thể thấy nổi bật lên trong khái niệm này chính là nguồn nhân lực làm việc tại các cơ quan chính quyền Nhà nước và các tổ chức dịch vụ công cộng do Nhà nước tổ chức được coi là công chức Nhà nước.
Tại Trung Quốc có khái niệm: “Công chức Nhà nước là những người công tác trong cơ quan hành chính Nhà nước các cấp, trừ nhân viên phục vụ”. Trung quốc khẳng định luôn ngay từ ban đầu là “công chức Nhà nước”. Đã khẳng định như vậy thì công chức chắc chắn phải làm việc trong các cơ quan nhà nước. Với người Trung Quốc đó là cơ quan hành chính Nhà nước các cấp, ngoài ra không tính tới các cơ quan khác do Nhà nước tổ chức và thành lập.
Tại Nhật Bản: Công chức Nhà nước gồm những người được nhận chức trong bộ máy của Chính phủ Trung ương, ngành tư pháp, quốc hội, quân đội, trường công và các bệnh viện quốc lập, xí nghiệp và các đơn vị sự nghiệp quốc doanh được lĩnh lương của ngân sách Nhà nước. Công chức địa phương gồm những người làm việc và lĩnh lương từ tài chính địa phương” [28,tr. Theo khái niệm này, Nhật Bản đã chia công chức thành hai cấp là cấp “công chức nhà nước” và cấp “công chức địa phương”. So với Trung Quốc, nội hàm trong khái niệm của Trung Quốc các đối tượng được gọi là “công chức” có thể rộng hơn, liệt kê thành nhiều thành phần hơn và cụ thể hơn rất nhiều.
Các công chức cấp nào thì được hưởng lương từ ngân sách của cấp đó. Công chức là một thuật ngữ được sử dụng trong quản lý nhà nước, trong sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đó là những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để 10 giữ một chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước đều là công chức theo quy chế này, trừ những trường hợp riêng tư do Chính phủ quy định. Theo Nghị định 169/HĐBT ngày 25/5/1991: “Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở Trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách Nhà nước cấp gọi là công chức Nhà nước”.
Nghị định số 95/1998/NĐ-CP, ngày 17/11/1998 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức: “Công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, bao gồm những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công việc thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp; những người làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và công nhân quốc phòng”. Tuy nhiên, chiểu theo các khái niệm và Nghị định trên thì có rất nhiều cán bộ trong các cơ quan hành chính Nhà nước sẽ không thuộc đối tượng là “công chức” mặc dù họ được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Theo Nghị định 06/2010/NĐ-CP: Công chức được tuyển dụng bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong biên chế giữ một công vụ thường xuyên hoặc nhiệm vụ thường xuyên trong các cơ quan hành chính Nhà nước ở cấp tỉnh, cấp huyện; Trong các cơ quan, đơn vị quân đội nhân dân (mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp như chuyên viên vi tính, kế toán…); Trong các cơ quan, đơn vị công an nhân dân (mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp); Trong các cơ quan Đảng; Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước; Trong các bộ và cơ 11 quan ngang bộ; Tòa án nhân dân các cấp (Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Chánh án, phó chánh án các tòa chuyên trách, thẩm phán); Viện kiểm sát Nhân dân; tổ chức chính trị xã hội (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên…); Trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập … Như vậy, có thể hiểu: Công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được đảm bảo quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong cơ quan, tổ chức, đơn vị”[10,tr. Khái niệm Cán bộ, công chức cấp xã: Theo khoản 3 điều 4 Luật cán bộ công chức năm 2008: Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ cho Thường trực Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước.
Tuy nhiên, một đơn vị hành chính cấp cơ sở thì không chỉ có công chức mà còn có các cán bộ thực hiện các công việc của UBND, các công việc liên quan trực tiếp với nhân dân trong và trên địa bàn xã nên có thể sử dụng chung một cụm từ là “cán bộ, công chức”. Theo Pháp luật có thể sử dụng chung là CBCC cấp xã trong đó bao gồm cả CBCC xã, phường, thị trấn. Đây là nguồn nhân lực làm việc tại cơ quan quản lý nhà nước hành chính cấp nhỏ nhất của nhà nước và trực tiếp làm việc, tiếp xúc và quan hệ và sống cùng nhân dân. Chính vì thế, Bác Hồ đã dạy các cán bộ cấp cơ sở là “nền tảng của hành 12 chính” cần chú trọng việc gần gũi dân, “mọi việc đều xong xuôi” không chỉ đối với các công việc của CBCC, mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân học tập, nhận thức và thực hiện các nghĩa vụ công dân tốt hơn, nhanh chóng và đồng lòng khi lực lượng CBCC xã, thị trấn tiếp xúc và tận tụy với nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “ Cấp xã là cấp gần gũi nhân dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi”[29, tr. Như vậy cấp xã, thị trấn, đặc biệt là chính quyền cấp xã, thị trấn, là cấp quan hệ trực tiếp với nhân dân, là nơi đầu tiên giải quyết các yêu cầu của nhân dân, tạo điều kiện cho nhân dân thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ của mình đồng thời là nơi thực hiện các đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Điều 3 Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 quy định cán bộ cấp xã có các chức vụ: Bí thư và Phó Bí thư Đảng ủy; Chủ tịch và Phó chủ tịch HĐND; Chủ tịch và Phó chủ tịch UBND; Chủ tịch MTTQ; Bí thư Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt nam; Chủ tịch Hội cựu chiến binh, Chủ tịch Hội nông dân.
Công chức cấp xã có chức danh: Trưởng công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng- Thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - Kế toán; Tư pháp - Hộ tịch; Văn hóa- Xã hội. Chất lượng cán bộ, công chức xã, thị trấn Chất lượng CBCC xã, thị trấn thể hiện ở kiến thức chuyên môn, trình độ quản lý nhà nước, trình độ lý luận chính trị, trình độ tin học, ngoại ngữ, kỹ năng giải quyết công việc, tình trạng sức khoẻ và thái độ trong công việc. Có 13 thể xem xét chất lượng CBCC xã, thị trấn trên những khía cạnh cụ thể như sau: 1. Kiến thức chuyên môn Kiến thức chuyên môn là phần không thể thiếu đối với CBCC.
Một đơn vị hành chính cấp cơ sở có đầy đủ các công việc liên quan đến kinh tế, quản lý xây dựng, địa chính, giáo dục, y tế, tư pháp… chính vì vậy, việc trang bị kiến thức chuyên môn là bắt buộc đối với CBCC cấp xã.