Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm cán bộ, công chức cấp xã Tại các điểm g, h Khoản 1, Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh CB, CC ngày 26/02/1998 (được Ủy BTV Quốc hội thông qua ngày 29-4-2003) quy định: những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND; Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; người đứng đầu tổ chức CT-XH xã, phường, thị trấn, những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc UBND xã được gọi là CB, CC trong biên chế nhà nước; được hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Tại khoản 3 Điều 4, Luật CB, CC (ban hành ngày 13/11/2008) đã định nghĩa: “Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, bí thư, phó bí thư đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội”. Tại khoản 2 Điều 4, Luật CB, CC (ban hành ngày 13/11/2008) đã định nghĩa: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự 6 nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Khoản 2 Điều 61 Luật CB,CC năm 2008 quy định: Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây: a) Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; b) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; c) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; d) Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; đ) Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; e) Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; g) Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam); h) Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Khoản 3 Điều 61 Luật CB,CC năm 2008 quy định: Công chức cấp xã có các chức danh sau đây: a) Trưởng Công an; b) Chỉ huy trưởng Quân sự; c) Văn phòng - thống kê; d) Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); đ) Tài chính - kế toán; e) Tư pháp - hộ tịch; g) Văn hóa - xã hội.
Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý. Điều 3 Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ 7 về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã cũng quy định tương tự. Cán bộ cấp xã có trình độ sơ cấp hoặc chưa đào tạo trình độ chuyên môn, nghiệp vụ thực hiện xếp lương chức vụ theo bảng lương được quy định tại Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ. Cán bộ cấp xã đã tốt nghiệp trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ từ trung cấp trở lên thực hiện xếp lương như công chức hành chính quy định tại bảng lương số 2 (Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước) ban hành kèm theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang.
Công chức cấp xã tốt nghiệp trình độ đào tạo từ sơ cấp trở lên phù hợp với chuyên môn của chức danh đảm nhiệm, thực hiện xếp lương như công chức hành chính quy định tại bảng lương số 2 (Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước), bảng lương số 4 (Bảng lương nhân viên thừa hành, phục vụ trong các cơ quan nhà nước và các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước) ban hành kèm theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP; Những người hiện đang đảm nhiệm chức danh công chức cấp xã quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định này chưa tốt nghiệp đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định thì được hưởng lương bằng 1,18 so với mức lương tối thiểu chung. Khái niệm về chất lượng đội ngũ cán bộ xã * Khái niệm về chất lượng, chất lượng cán bộ, công chức, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Chất lượng luôn là vấn đề quan trọng nhất khi tiến hành đánh giá bất kỳ một sự vật, một quá trình hay đánh giá về hoạt động của một con người, một nhóm người. Do đó, để đi vào nghiên cứu chất lượng đội ngũ cán bộ xã, 8 thì việc tìm hiêu, làm rõ quan niệm "chất lượng" nói chung là một yêu cầu cần thiết. Từ điển tiếng Việt, Nxb Văn học, Hà Nội định nghĩa: “chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật hay một sự việc: chất lượng hàng hóa.
Nâng cao chất lượng giảng dạy”. Theo Đại Từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên thì: “Chất lượng” là: “Cái làm nên phẩm chất, giá trị của con người, sự vật: chất lượng hàng hóa; cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác với sự vật kia; phân biệt với số lượng”. Mỗi lĩnh vực khác nhau thì phương pháp đánh giá về chất lượng cũng khác nhau, nhưng có điểm chung là: chất lượng của đối tượng đánh giá là tổng hợp các yếu tố liên quan đến bản chất đối tượng đó, làm nên tác dụng, giá trị của đối tượng. Nói đến chất lượng là phải nói đến hai yếu tố: một là, đó là tổng hợp những phẩm chất, thuộc tính tạo nên giá trị của một con người, một sự vật, hiện tượng; hai là, những phẩm chất đó đáp ứng đến đâu những yêu cầu đã đặt ra.
Nói đến chất lượng là nói đến tốt hay xấu, đạt hay không đạt một hay nhiều chuẩn mực nào đó. Như vậy, khái niệm “chất lượng” hàm chứa trong nó tính chỉnh thể, tổ hợp các thuộc tính cấu thành nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật hay một sự việc nào đó. Đối với một con người sống trong thời kỳ CNH, HĐH, chất lượng của cá nhân đó được hiểu là tổng hợp những phẩm chất nhất định về sức khỏe, trí tuệ, khoa học, chuyên môn nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, ý chí, niềm tin, năng lực; luôn gắn bó với tập thể, với cộng đồng và tham gia một cách tích cực vào quá trình CNH, HĐH đất nước. Mỗi cán bộ, công chức không tồn tại một cách biệt lập mà phải được đặt trong một chỉnh thể thống nhất của cả đội ngũ cán bộ, công chức.
Vì vậy, quan niệm về chất lượng cán bộ, công chức phải được đặt trong mối quan hệ giữa chất lượng của từng cán bộ, công chức với chất lượng của cả đội ngũ. Chất lượng của cả đội ngũ không phải là sự tập hợp giản đơn số lượng, mà là sự tổng 9 hợp sức mạnh của toàn bộ đội ngũ. Sức mạnh này bắt nguồn từ phẩm chất vốn có bên trong của mỗi cán bộ và nó được tăng lên gấp bội bởi tính thống nhất của tổ chức; của sự giáo dục, đào tạo, phân công, quản lý, của kỷ luật. Như vậy, có thể hiểu chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức bao gồm: Một là, chất lượng của cả đội ngũ với tính cách là một chỉnh thể, thể hiện ở cơ cấu đội ngũ được tổ chức khoa học, có tỷ lệ cân đối, hợp lý về số lượng, giới tính, dân tộc, độ tuổi, trình độ… được phân bố trên cơ sở các địa phương, đơn vị và lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội.
Hai là, chất lượng của từng cán bộ, công chức; cụ thể là phẩm chất chính trị, đạo đức; trình độ năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Chất lượng của từng cán bộ, công chức là yếu tố cơ bản tạo nên chất lượng của cả đội ngũ. Như vậy, các yếu tố cấu thành chất lượng cán bộ, công chức không chỉ bao gồm một mặt, một khía cạnh nào đó, mà nó bao gồm cả một hệ thống, được kết cấu như một chỉnh thể toàn diện từ chất lượng của từng cán bộ, công chức (đây là yếu tố cơ bản nhất, tiên quyết nhất) cho đến cơ cấu số lượng nam nữ, độ tuổi, thành phần cùng với việc bồi dưỡng, giáo dục, phân công, quản lý kiểm tra giám sát và thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền nhân dân. Từ những đặc điểm trên có thể quan niệm: Chất lượng cán bộ, công chức cấp xã là tổng hợp các tiêu chí về phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ văn hóa, chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, tác phong làm việc, lối sống, tuổi tác, tình trạng sức khỏe, khả năng thích ứng cũng như khả năng hoàn thành chức trách nhiệm vụ được giao.
Quan điểm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Khi nghiên cứu chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã nói riêng cũng như nghiên cứu chất lượng nguồn nhân lực trong một tổ chức nói chung, cần phải nghiên cứu cấu trúc và cơ cấu của đội ngũ đó. Cơ cấu đội ngũ trước hết là một 10 nội dung phản ánh mặt lượng của đội ngũ, nhằm trả lời các câu hỏi: Đội ngũ CBCC cấp xã gồm có tổng số bao nhiêu người? Sự phân bổ cho từng xã cụ thể ra sao? Cơ cấu đội ngũ là một nội dung quan trọng để đánh giá chất lượng của đội ngũ CBCC.