Nà Lữ Hòa An Cao Bằng: Khám Phá Lịch Sử Từ Thế Kỷ IX Đến XIX

Khám phá luận văn thạc sĩ về Nà Lữ, Cao Bằng từ thế kỷ IX đến nửa đầu thế kỷ XIX, phân tích lịch sử và văn hóa đặc sắc của vùng đất này.

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Lịch sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2023

113
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

3. Mục đích, đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu

4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1. Nguồn tư liệu

4.2. Phương pháp nghiên cứu

5. Đóng góp của luận văn

6. Cấu trúc của luận văn

6.1. Chương 1: Nà Lữ: Mấy nét khái quát về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và xã hội

6.2. Chương 2: Quá trình lịch sử

6.3. Chương 3: Đời sống kinh tế phường Nà Lữ

6.4. Chương 4: Đời sống văn hóa phường Nà Lữ

1. CHƯƠNG 1: NÀ LỮ: MẤY NÉT KHÁI QUÁT VỀ VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI

1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Tóm tắt

I. Tổng quan về lịch sử Nà Lữ Hòa An Cao Bằng từ thế kỷ IX đến XIX

Nà Lữ, một vùng đất có lịch sử lâu đời, đã trở thành trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa của Cao Bằng từ thế kỷ IX. Vùng đất này không chỉ là nơi sinh sống của các dân tộc thiểu số như Tày và Thái mà còn là căn cứ quân sự quan trọng trong các cuộc chiến tranh lịch sử. Từ những năm đầu của thế kỷ IX, Nà Lữ đã được xây dựng thành một thành trì vững chắc, thể hiện vai trò quan trọng trong bối cảnh chính trị của thời kỳ phong kiến.

1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Nà Lữ

Nà Lữ đã được hình thành từ rất sớm, với sự xuất hiện của các cộng đồng dân cư. Vào thế kỷ IX, Cao Biền đã cho xây dựng thành Nà Lữ, biến nơi đây thành căn cứ quân sự của nhà Đường. Sự phát triển của Nà Lữ gắn liền với các sự kiện lịch sử quan trọng như cuộc chiến tranh giữa nhà Mạc và Lê - Trịnh.

1.2. Vai trò của Nà Lữ trong các cuộc chiến tranh lịch sử

Nà Lữ không chỉ là một vùng đất bình yên mà còn là chiến trường của nhiều cuộc chiến tranh. Vào thế kỷ XVII, Nà Lữ trở thành mục tiêu tấn công của quân Lê - Trịnh nhằm lật đổ chính quyền nhà Mạc. Những biến động này đã ảnh hưởng sâu sắc đến lịch sử và văn hóa của vùng đất này.

II. Những thách thức trong nghiên cứu lịch sử Nà Lữ Hòa An

Việc nghiên cứu lịch sử Nà Lữ gặp nhiều thách thức do thiếu tài liệu và thông tin. Các tài liệu lịch sử hiện có chủ yếu tập trung vào những sự kiện lớn mà không đi sâu vào đời sống hàng ngày của người dân. Điều này khiến cho việc hiểu rõ về văn hóa và xã hội của Nà Lữ trở nên khó khăn.

2.1. Thiếu hụt tài liệu lịch sử

Nhiều tài liệu lịch sử về Nà Lữ còn rất hạn chế, chủ yếu là những ghi chép sơ lược. Các tác phẩm nghiên cứu trước đây chưa đủ để cung cấp cái nhìn toàn diện về vùng đất này.

2.2. Khó khăn trong việc tiếp cận thông tin

Việc tiếp cận thông tin từ các nguồn tài liệu địa phương cũng gặp nhiều khó khăn. Nhiều tài liệu chỉ được lưu giữ trong các gia đình hoặc các tổ chức nhỏ, không được công bố rộng rãi.

III. Phương pháp nghiên cứu lịch sử Nà Lữ Hòa An hiệu quả

Để nghiên cứu lịch sử Nà Lữ một cách hiệu quả, cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Việc kết hợp giữa nghiên cứu tài liệu và khảo sát thực địa sẽ giúp thu thập thông tin chính xác và phong phú hơn.

3.1. Nghiên cứu tài liệu lịch sử

Phân tích các tài liệu lịch sử như địa bạ, biên niên sử và các tác phẩm nghiên cứu trước đây sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về Nà Lữ. Những tài liệu này giúp xác định các sự kiện quan trọng và bối cảnh lịch sử của vùng đất.

3.2. Khảo sát thực địa và phỏng vấn

Khảo sát thực địa và phỏng vấn người dân địa phương sẽ giúp thu thập thông tin về đời sống văn hóa, phong tục tập quán và các truyền thuyết liên quan đến Nà Lữ. Đây là nguồn tư liệu quý giá cho việc nghiên cứu.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu lịch sử Nà Lữ Hòa An

Nghiên cứu lịch sử Nà Lữ không chỉ mang lại hiểu biết về quá khứ mà còn có thể ứng dụng vào việc phát triển kinh tế và văn hóa hiện tại. Những giá trị văn hóa truyền thống cần được bảo tồn và phát huy trong bối cảnh hiện đại.

4.1. Bảo tồn di sản văn hóa

Việc bảo tồn các di sản văn hóa tại Nà Lữ là rất cần thiết. Các hoạt động văn hóa truyền thống cần được khôi phục và phát triển để giữ gìn bản sắc văn hóa của vùng đất này.

4.2. Phát triển du lịch văn hóa

Nà Lữ có tiềm năng lớn trong phát triển du lịch văn hóa. Việc khai thác các giá trị lịch sử và văn hóa sẽ thu hút du khách, góp phần phát triển kinh tế địa phương.

V. Kết luận về lịch sử Nà Lữ Hòa An Cao Bằng

Lịch sử Nà Lữ từ thế kỷ IX đến XIX là một phần quan trọng trong bức tranh lịch sử của Cao Bằng. Việc nghiên cứu sâu sắc về vùng đất này sẽ giúp hiểu rõ hơn về các biến động chính trị, xã hội và văn hóa trong lịch sử Việt Nam.

5.1. Tầm quan trọng của Nà Lữ trong lịch sử Việt Nam

Nà Lữ không chỉ là một địa danh mà còn là biểu tượng của những biến động lịch sử. Việc nghiên cứu Nà Lữ sẽ giúp làm sáng tỏ nhiều vấn đề trong lịch sử Việt Nam.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về Nà Lữ, đặc biệt là các khía cạnh văn hóa và xã hội. Những nghiên cứu này sẽ góp phần làm phong phú thêm kho tàng tri thức về lịch sử Việt Nam.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu và kết kuận, luận văn đƣợc chia thành 4 chƣơng: - Chƣơng 1: Nà Lữ: Mấy nét khái quát về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và xã hội. Chƣơng này tập trung làm rõ duyên cách và vị trí địa lý phƣờng Nà Lữ cũng nhƣ nguồn gốc dân cƣ và quá trình tộc ngƣời diễn ra ở đây trong giai đoạn từ thế kỷ IX đến giữa thế kỷ XIX. - Chƣơng 2: Quá trình lịch sử. Chƣơng này làm rõ lịch sử Nà Lữ từ thời nguyên thủy cho đến giữa thế kỷ XIX, nhằm cung cấp những hiểu biết cơ bản về những biến động chính trị, xã hội đã xảy ra ở vùng đất này.

- Chƣơng 3: Đời sống kinh tế phường Nà Lữ. Chƣơng này tập trung phân tích địa bạ đầu thời Nguyễn, nhằm làm rõ chế độ sở hữu ruộng đất phƣờng Nà Lữ, đồng thời phác họa mô hình kinh tế truyền thống của phƣờng Nà Lữ. - Chƣơng 4: Đời sống văn hóa phường Nà Lữ. Chƣơng này tập trung nghiên cứu đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của cƣ dân địa phƣơng, từ đó làm rõ sự giao thoa văn hóa Tày – Việt trong lịch sử.

14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 NÀ LỮ: MẤY NÉT KHÁI QUÁT VỀ VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI 1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên Nà Lữ là một cánh đồng cổ của Cao Bằng, đã xuất hiện trong truyền thuyết Pú Lương Quân – câu truyện kể về cuộc sống nguyên thủy của ngƣời Tày cổ. Trong các thƣ tịch trƣớc thế kỷ XIX, hầu nhƣ không có tƣ liệu nói về diên cách của Nà Lữ. Đầu thế kỷ XIX, theo tƣ liệu địa bạ, phƣờng Nà Lữ là một đơn vị hành chính tƣơng đƣơng cấp xã, thuộc tổng Hà Đàm, châu Thạch Lâm, trấn Cao Bằng, nay là một bộ phận của xã Hoàng Tung, huyện Hoà An, tỉnh Cao Bằng, cách Thị xã 10km về hƣớng Đông Nam và cách Thị trấn Nƣớc Hai 6km về hƣớng Tây Bắc.

Theo Địa bạ Gia Long 4 (1805), phƣờng Nà Lữ “Đông cận Mạnh Tuyền xã địa phận lấy trung giang làm giới; Tây gần Phúc Tăng xã địa phận, lấy suối Hội Tùng làm giới; Nam gần Hà Hoàng xã, lấy Pàn Chân xứ làm giới; Bắc giáp Cối Khê xã, lấy Chiêu Bình lãnh thổ sơn làm giới” [125]. Sau cải cách hành chính Minh Mệnh, địa giới các xã cũng có ít nhiều thay đổi. Theo địa bạ Minh Mệnh 21 (1840), phƣờng Nà Lữ “Đông cận Cầu Lâm, Vu Thuỷ xã, lấy bán giang làm giới, lại gần Xuân Lĩnh xã, Tha Yến bán giang làm giới; Tây gần Phúc Tăng xã, lấy bán khê Hội Tùng làm giới; Nam gần xã Hà Đàm, lấy Pàn Chân xứ làm giới, lại gần Cối Khê xã, lấy Lãnh Chung, Chiêu Bình làm giới; Bắc giáp Thọ Cƣơng, lấy trung hà làm giới” [126]. Nhƣ vậy, về đại thể, địa giới phƣờng Nà Lữ vẫn đƣợc giữ nguyên.

Song có lẽ ngƣời chép địa bạ Minh Mệnh 21 đã có sự nhầm lẫn: xã Cối Khê thực chất nằm ở phía Bắc Nà Lữ, gianh giới là đèo Bình, nay là làng Mã Quan thuộc xã Hồng Việt; xã Thọ Cƣơng chính là khu vực Đà Lạn (xã Bế Triều) ở về phía Đông Bắc, lấy sông Bằng làm gianh giới. Đến thời Đồng Khánh, địa giới Nà Lữ về cơ bản vẫn đƣợc giữ nguyên, nhƣng đã trở thành đơn vị hành chính xã [89, tr. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, xã Nà Lữ gồm 16 bản: Nà Lữ, Làng Đền, Đoóng Mậy, Chân Khắc Thiệu, Nà Riềm, Nà Thắng, Bản Giài, Khau Luông, Bản Kế, Bản Nông, Hoằng Chuông, Hoằng Gioòng, Nà Đồng, Nà Nhâm, Bó Lếch [40, tr. Qua khảo sát thực tế địa phƣơng, kết hợp với tài liệu trên, chúng tôi thấy, địa vực phƣờng Nà Lữ đầu thế kỷ XIX bao gồm 9/14 xóm của xã Hoàng Tung hiện nay là: xóm Làng Đền, Nà Lữ, Bản Giài, Nà Riềm, Khau Luông, Bó Lếch, Bản Chạp, Bến Đò, Kế Nông.

Các xóm này nằm về phía Đông của xã, giáp sông Bằng. Nà Lữ là cách gọi theo tiếng Việt, biến âm từ tiếng Tày cổ “Nà Lậc” mà thành. “Nà Lậc” nghĩa là ruộng sâu, lầy thụt. Theo các cụ già địa phƣơng kể lại, Nà Lữ ngày xƣa là một vùng đất trũng ven sông, quanh làng Nà Lữ đã có 12 giếng nƣớc tự nhiên.

Nhiều khu ruộng cao của Hoàng Tung hiện nay xƣa là đầm lầy nhƣ khu Nà Ó (ruộng cây sậy) (nay thuộc Bản Chạp). Đầu thế kỷ XX, nhân dân mới khai phá vùng Nà Ó, cải tạo thành ruộng lúa. Hơn nữa, những địa danh có tiền tố “ao” nay đã trở thành ruộng cao, dùng để cày cấy nhƣ Ao Quan, Ao Cả, Ao Xe, Thâm Rạng (Ao voi). Nà Lữ còn có tên gọi là Nà Lự hay Na Lữ.

Đây là các cách phát âm khác của cƣ dân địa phƣơng và các vùng lân cận. Có tên gọi là Nà Lự bởi trong phát âm của ngƣời Tày không có dấu ngã, nên những từ có dấu đó nhiều khi chuyển thành dấu nặng. Nà Lữ nằm ở trung tâm khu vực lòng máng sông Bằng (cánh đồng Hoà An hiện nay), có độ cao trung bình so với mặt nƣớc biển là 250 - 350m. Do nằm giữa hai dãy núi đá vôi Bảo Lạc - Tắp Ná và Lục Khu Hà Quảng - Trà Lĩnh, ở giữa có sông Bằng chảy qua, nên Nà Lữ cũng nhƣ khu vực Hoà An có một vùng đất rộng rãi với những cánh đồng phì nhiêu nằm xen với đồi núi.

Đồi núi ở Nà Lữ nằm trong dãy núi đất bắt nguồn “từ xã Triều Vũ huyện Nguyên Bình chạy đến núi Thiên Mã (núi đất) xã Phúc Tăng, tản đi các xã Phúc Cơ, Hà Đàm, Nà Lữ, An Ninh rồi hết, dài khoảng 20 dặm” [89, tr. Vì thế, ở Nà Lữ núi đất là chủ yếu, chiếm khoảng 20% diện tích tự nhiên của vùng, tạo thành những rừng cây um tùm, rậm rạp, cung cấp cho cƣ dân địa phƣơng nhiều lâm sản. Các loại gỗ quý nhƣ lim, táu, nghiến, lát sả kài, cáng lò, bồ đề. dùng 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com để làm nhà cửa và các vật dụng gia đình; các loại cây hƣơng liệu và thuốc quý nhƣ kim mao cẩu tích, sa nhân, hà thủ ô, tam thất, mộc nhĩ, nấm hƣơng, .; các loại rau, thực phẩm nhƣ măng, rau ngót rừng, rau dển, củ nâu, củ chàm.

Mây, tre, vầu, nứa, trúc. thì nhiều vô kể, không chỉ có ở rừng mà còn mọc dọc theo bờ sông Bằng và các khe suối. Rừng Nà Lữ còn là nơi sinh sống của nhiều loài động vật nhƣ hƣơu, nai, hổ, báo, lợn lòi, tê tê, sóc, cầy,. Nà Lữ nằm trong đới địa chất sông Hiến, đƣợc hình thành cách đây khoảng 26 - 30 triệu năm.

Đới sông Hiến nằm giữa đứt gãy sông Năng và đứt gãy Cao Bằng - Tiên Yên. Trong đới có một đƣờng đứt gãy dài chạy theo hƣớng Tây Đông, qua vùng núi Phya Oắc nối liền từ Nguyên Bình đến Hoà An. Đƣờng đứt gãy này có đá trầm tích lục nguyên phun trào và trầm tích của hồ Nêôgen. Do đó, trong lòng đất của đới sông Hiến, đặc biệt là khu vực Nguyên Bình, Hoà An, Thạch An có nhiều khoáng sản quý nhƣ vàng, thiếc, đồng, sắt, ti tan.

Nà Lữ có mỏ sắt ở xóm Bó Lếch (giếng sắt). Hệ thống sông suối của Nà Lữ dày đặc, đảm bảo nguồn nƣớc tƣới để phát triển nghề trồng lúa. Bằng Giang là con sông lớn nhất của tỉnh, bắt nguồn Trung Quốc, qua huyện Hà Quảng, “chảy về phía đông qua xã Nhƣợng Bạn và An Ninh, lại chảy về phía đông nam qua các xã Cối Khê, Thọ Cƣơng, Cầu Lâm, Nà Lữ và Vu Thuỷ” [67, tr.415], đến thành Mục Mã hợp lƣu với sông Hiến, sông Cổn, rồi xuôi về Quảng Hoà, sang Long Châu (Trung Quốc). Sông Bằng chảy qua địa phận Nà Lữ dài khoảng 3km “rộng 13 trƣợng 8 thƣớc, sâu 5 thƣớc” [89, tr.661], vừa cung cấp nguồn nƣớc dồi dào cho các cánh đồng ở Nà Lữ, vừa thuận lợi cho thuyền bè qua lại.

Ngoài ra, Nà Lữ có nhiều suối, chiếm 7/11 con suối của xã Hoàng Tung, hầu hết bắt nguồn từ đồi núi phía Tây Nam, chảy qua các khe núi và cánh đồng ra sông Bằng nhƣ Khuổi Quan, Khuổi Lủng, Khuổi Cƣờm, Khuổi Luông, Khuổi Nặm, Suối Thiềng, suối Thơi. Suối của Nà Lữ nhỏ, dốc, nƣớc chảy xiết, mỗi khi trời mƣa to, nƣớc lên rất nhanh và thƣờng ứ lại từ 3 đến 5 ngày sau mới rút hết [89, tr. Sông suối ở Nà Lữ không chỉ đem lại nguồn nƣớc cho sinh hoạt và sản xuất mà còn 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cung cấp cho cƣ dân một lƣợng không nhỏ thuỷ sản nhƣ tôm, cá dầm xanh, cá chép, ba ba, rùa. Trong lịch sử, Nà Lữ đã từng đóng vai trò là kinh đô, là trung tâm chính trị của một vùng nên giao thông rất thuận lợi, có cả đƣờng bộ và đƣờng thuỷ.

Sách Đồng Khánh địa dư chí có nhắc đến một con đƣờng nhỏ đi từ phủ lỵ Hoà An (tức là Cao Bình, xã Hƣng Đạo hiện nay) theo hƣớng Tây Nam qua các xã Nà Lữ, Lân Chỉ (huyện Thạch Lâm), các xã Gia Bằng, Bằng Đức (huyện Nguyên Bình) đến xã Vân Tòng giáp giới huyện Cảm Hoá (tỉnh Thái Nguyên) [89, tr. Nà Lữ còn nhiều đƣờng mòn, có thể sử dụng những phƣơng tiện thô sơ nhƣ ngựa, xe trâu. nối liền các bản với nhau, các bản với rừng và đồng ruộng. Nhiều con đƣờng đã đƣợc nhân dân cải tạo thành đƣờng lớn, ô tô có thể vào đƣợc nhƣ đƣờng nối liền từ Làng Đền, Nà Lữ qua Bến Đò, Bản Chạp, Kế Nông, Bó Lếch, đến Bản Tấn có một đƣờng đi Quốc lộ 3; một đƣờng đi Hào Lịch, đến Lam Sơn (xã Hồng Việt) lại có một đƣờng qua cầu Hoằng Bó lên Thị trấn Nƣớc Hai, một đƣờng đi Minh Tâm, Nguyên Bình.

Nà Lữ nằm ở khu vực trung tâm cánh đồng Hòa An, lại có sông Bằng chảy qua nên cũng đƣợc coi là một trong những đầu mối giao thông về đƣờng thuỷ, thuận tiện cho việc thông thƣơng với các địa phƣơng trong tỉnh và với Trung Quốc. Trên con sông này, những chiếc thuyền mành và bè mảng thƣờng xuyên chuyên chở khách du lịch và thƣơng nhân đi lại buôn bán giữa Trung Quốc và Cao Bằng [135, tr. Thƣơng nhân ngƣời Hoa có thể đi thuyền từ Long Châu (Trung Quốc) sang buôn bán ở các chợ dọc sông Bằng. Qua khảo sát thực tế cho thấy, Nà Lữ từng có 3 bến đò (thuộc các xóm Làng Đền, Nà Lữ và Bến Đò).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ