CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TẠI VIỆT NAM 1.1 Thế nào là truyền dẫn tỷ giá hối đoái (ERPT) Có rất nhiều những nghiên cứu khác nhau về truyền dẫn tỷ giá, điển hình như của Giovanni P.Olivei (2002) cho rằng truyển dẫn tỷ giá hối đoái như là sự tác động của sự thay đổi tỷ giá hối đoái đến giá nhập khẩu ( tính trên đồng nội tệ) đối với những quốc gia có quan hệ xuất nhập khẩu với nhau. Hay nói cách khác là 1% thay đổi của tỷ giá hối đoái sẽ tác động như thế nào đến sự thay đổi giá nhập khẩu. Nghiên cứu khác của Amit Ghosh và Ramkishen S. Rudrani Bhattacharya, Ila Patnaik, Ajay Shah (2008) trong nghiên cứu của mình đã định nghĩa truyền dẫn tỷ giá hối đoái là phần trăm thay đổi của giá cả hàng hóa trong nước(domestic prices) -giá nhập khẩu, giá sản xuất, giá tiêu dùng và cả giá hàng hóa xuất khẩu- được xác định bởi các nhà nhập khẩu trong nước khi có sự thay đổi 1% của biến động tỷ giá hối đoái.
Nkunde Mwase (2006) có định nghĩa rộng hơn về truyền dẫn tỷ giá hối đoái chính là sự thay đổi của giá cả hàng hóa trong nước như thế nào khi có sự thay đổi 1% của cú sốc tỷ giá. Jonathan McCarthy (2000) nghiên cứu tác động của sự thay đổi tỷ giá hối đoái và giá nhập khẩu đến chỉ số giá trong nước( PPI, CPI) ở những quốc gia phát triển và tác giả sử dụng mô hình VAR để phân tích sự tương quan của sự biến động của tỷ giá hối đoái và giá nhập khẩu đến chuỗi các chỉ số giá ở các nước phát triển. Một nghiên cứu điển hình nữa trong vần đề này là của Takatoshi Ito và Kiyotaka Sato (2006) cũng định nghĩa truyền dẫn tỷ giá là mức ảnh hưởng của biến động tỷ giá TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 lên giá nội địa và mức ảnh hưởng này thường được thảo luận cùng với những chính sách vĩ mô của nền kinh tế. Nhìn chung tất cả các nghiên cứu đều nhận thấy rằng sự biến động tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng đáng kể đến sự biến động của giá cả trong nước và nếu ta biết được mức độ ảnh hưởng của nó là như thế nào, ở mức độ nào, thì việc điều hành tỷ giá hối đoái sẽ trở thành một công cụ hữu hiệu để kiểm soát những biến động của nền kinh tế.
Qua một số những nghiên cứu đã nêu tác giả khái quát định nghĩa truyền dẫn tỷ giá như sau:“ truyền dẫn tỷ giá là phần trăm thay đổi của giá cả hàng hóa nội địa - chỉ số giá nhập khẩu(IMP), chỉ số giá sản xuất(PPI), chỉ số giá tiêu dùng (CPI)- khi có sự thay đổi một phần trăm (1%)của cú sốc tỷ giá”.2 Cơ chế truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào các chỉ số giá là như thế nào? Theo Rudrani Bahttacharya (2008) cho rằng cơ chế truyền dẫn tỷ giá vào giá hàng hóa nội địa qua hai giai đoạn: Giai đoạn 1: sự sụt giảm của tỷ giá hối đoái sẽ làm tăng giá nguyên vật liệu đầu vào của các hàng hóa nhập khẩu. Giai đoạn 2: Khi tăng giá nguyên vật liệu đầu vào của các hàng hóa nhập khẩu thì thông qua cung cầu thị trường nó sẽ lâp tức ảnh hưởng làm tăng chi phí sản xuất và sẽ làm tăng giá hàng hóa trong nước. Và mức truyền dẫn được gọi là hoàn toàn(complete) khi 1% thay đổi tỷ giá sẽ dẫn đến sự thay đổi trong giá cả nội địa cũng ở mức 1%, và nếu mức độ thay đổi này nhỏ hơn 1% thì mức truyền dẫn được gọi là không hoàn toàn(incomplete). Theo nghiên cứu của Nicoleta (2007), những thay đổi của TGHĐ sẽ ảnh hưởng đến tỷ lệ lạm phát qua hai kênh cơ bản là: trực tiếp và gián tiếp.
Kênh trực tiếp: Để đơn giản hoá phân tích và không mất tính tổng quát, ta có thể xem cú sốc này chính là: sự mất giá đồng nội tệ. Điều này sẽ khiến những hàng hoá và nguyên liệu nhập khẩu trở nên đắt hơn. Khi giá các nguyên liệu nhập khẩu tăng, chi phí sản xuất sẽ tăng và tăng giá tiêu dùng. Giá hàng hoá tiêu dùng nhập khẩu tăng sẽ phản ánh ngay vào sự tăng lên của chỉ số giá tiêu dùng.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2: Kênh trực tiếp của mức chuyển tỷ giá Hàng tiêu Hàng hóa nhập 1 Hàng hóa nhập 2 Nguyên vật liệu 3 dùng cuối khẩu( chỉ số giá khẩu( chỉ số giá sản xuất( chỉ số cùng( chỉ số nước ngoài-P*) nhập khẩu-P) giá sản xuất- giá tiêu dùng- PPI) CPI) 4 Hàng tiêu dùng cuối cùng( chỉ số giá tiêu dùng- CPI) Nguồn: Nicoleta (2007) b. Kênh gián tiếp: Khi đồng nội tệ giảm giá, hàng nội địa sẽ trở nên rẻ hơn so với hàng quốc tế khiến cầu hàng nội địa tăng dẫn đến giá tăng theo cơ chế cung - cầu thị trường hoặc dẫn đến gia tăng sản xuất, tăng cầu lao động, tiếp đến là tăng lương và tăng tổng cầu, kết quả là tỷ lệ lạm phát gia tăng. Tuy nhiên, tác động này chủ yếu là trong dài hạn do giá thường cứng nhắc trong ngắn hạn. Một kênh gián tiếp quan trọng khác : trong ngắn hạn cũng như dài hạn thông qua tỷ lệ đô la hoá nền kinh tế, tức là tình trạng người dân sở hữu các tài sản tính bằng ngoại tệ.
Giả định TGHĐ tăng, tức là nội tệ mất giá và ngoại tệ tăng giá, người dân có xu hướng chuyển sang nắm giữ các tài sản bằng ngoại tệ, đẩy giá của các tài sản tính bằng ngoại tệ tăng, thông thường là bất động sản và các mặt hàng xa xỉ, và mặt bằng giá chung sẽ tăng lên hay CPI sẽ tăng.3 Tổng quan về các nghiên cứu điển hình về truyền dẫn tỷ giá(ERPT) ở các nước Về cơ bản vai trò quan trọng nhất của truyền dẫn tỷ giá là mức độ ảnh hưởng của nó trong khả năng dự báo lạm phát trong nền kinh tế, điều đó có ý nghĩa rất quan trọng đối với ngân hàng trung ương trong việc thực thi chính sách tiền tệ. Nắm bắt được vai trò của nó mà các nhà kinh tế đã không ngừng nghiên cứu để xác định mức độ ảnh hưởng của truyền dẫn tỷ giá đến giá cả nội địa nhằm tăng khả năng dự báo cho chính phủ trong việc thực thi các chính sách vĩ mô của nền kinh tế các nước. Dưới đây tác giả xin điểm qua một số các nghiên cứu điển hình. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Các nghiên cứu trên thế giới.
Khi xem xét phản ứng của giá nhập khẩu của các ngành công nghiệp ở Hoa Kỳ đối với những biến động của tỷ giá hối đoái trong giai đoạn 1981-1999, Oliver (2002), kết quả nghiên cứu là mức truyền dẫn tỷ giá vào giá nhập khẩu là không hoàn toàn, trung bình ở mức 0.5 % đối với các ngành công nghiệp trong giai đoạn 1980s và mức độ truyền dẫn càng nhỏ hơn cụ thể 0.25% trong giai đoạn 1990s. Do đó, đề xuất của tác giả là để giảm lượng hàng hóa nhập khẩu vào Hoa Kỳ thì chính phủ nên phá giá đồng nội tệ(USD). Môi trường lạm phát và mức biến động tỷ giá ở một quốc gia là một trong những nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến mức truyền dẫn tỷ giá vào chỉ số giá. Theo Campa & Goldberg(2004) nghiên cứu về mức độ truyền dẫn tỷ giá vào giá nhập khẩu của 23 nước OECD và kết quả nghiên cứu cho thấy các nước có tỷ giá hối đoái và lạm phát biến động ít hơn sẽ có tỷ lệ truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào giá nhập khẩu thấp hơn.
Cùng với kết luận trên có nghiên cứu của Ghosh và Rajan(2008) tác giả đã sử dụng phương pháp hồi qui tuyến tính OLS để đo lường độ lớn của truyền dẫn tỷ giá vào chỉ số giá tiêu dùng và chỉ số giá nhập khẩu của Hàn Quốc, Thái Lan, kết quả nghiên cứu đã cho thấy mức truyền dẫn tỷ giá ở Thái Lan cao hơn ở Hàn Quốc, bài nghiên cứu cũng cho thấy độ mở của nền kinh tế và sự thay đổi của tỷ giá càng lớn thì độ lớn của truyền dẫn tỷ giá vào chỉ số giá nhập khẩu càng tăng. Sự phụ thuộc hàng nhập khẩu của một quốc gia và qui mô của một quốc gia cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến độ lớn của truyền dẫn tỷ giá vào chỉ số giá. Theo Campa,Goldberg & Gonzales-Minguez (2005) khi nghiên cứu về mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến giá nhập khẩu giữa các nước và các loại sản phẩm trong khu vực đồng Euro. Kết quả nghiên cứu: trong ngắn hạn, ảnh hưởng của biến động tỷ giá đến giá nhập khẩu cao nhưng không hoàn toàn (nhỏ hơn 1), và rằng mức truyền dẫn là khác nhau giữa các ngành công nghiệp và các quốc gia.
Trong dài hạn: mức chuyển dịch lại cao hơn (gần bằng 1), không tìm thấy bằng chứng thuyết phục rằng sự ra đời của đồng Euro gây ra một sự thay đổi cấu trúc về mức truyền dẫn tỷ giá vào giá nhập khẩu của khu vực đồng Euro. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Mc Cathay(2000) là người tiên phong trong việc sử dụng mô hình VAR đệ qui (recursive VAR) để nghiên cứu về truyền dẫn tỷ giá. Mục tiêu nghiên cứu của tác giả là phân tích thực nghiệm tác động của thay đổi tỷ giá và giá nhập khẩu ảnh hưởng như thế nào đến chỉ số PPI, CPI ở các nước công nghiệp cụ thể là ( United States, Japan, Germany, France, UK, Belgium, Netherland, Sweden, Switzerland), kết quả cho thấy biến động tỷ giá hối đoái và giá nhập khẩu (external factors) có ảnh hưởng không đáng kể đến PPI, CPI ở các nước công nghiệp ở thời kỳ hậu Bretton Woods nhưng nó ảnh hưởng đáng kể đến những quốc gia có thị phần nhập khẩu lớn và môi trường cạnh tranh không cao. Hahn(2003) trong nghiên cứu của mình tác giả cũng sử dụng mô hình VAR đệ qui để nghiên cứu về tác động của các cú sốc ngoại tác (cú sốc giá dầu, cú sốc tỷ giá, cú sốc giá cả hàng hóa nhập khẩu trừ giá dầu) đến chuỗi các chỉ số giá (IMP, PPI, CPI) của khu vực sử dụng đồng tiền chung Châu Âu.
Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ truyền dẫn lớn nhất và nhanh nhất là do cú sốc của giá nhập khẩu không bao gồm giá dầu, tiếp đó là cú sốc tỷ giá và cú sốc giá dầu. Mức độ ảnh hưởng của các cú sốc này giảm dần theo chuỗi phân phối giá (IMP->PPI->CPI). Tác động của các cú sốc giải thích phần lớn sự khác biệt trong chuỗi các chỉ số giá.