Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hà Tây là địa phương có số lượng làng nghề và tốc độ phát triển nghề truyền thống thuộc nhóm dẫn đầu cả nước với 1.460 làng có nghề truyền thống và nghề mới phát triển. Sự phát triển của các làng nghề thủ công mỹ nghệ đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết việc làm cho lao động nông nhàn, thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH - HĐH).

Trong các cụm làng nghề của tỉnh, xã Phú Túc (huyện Phú Xuyên) là một trong số ít địa phương có 100% các làng đều làm nghề thủ công, trong đó thôn Lưu Thượng được xem là cái nôi của nghề đan cỏ tế (cây guột). Mặc dù sản phẩm mây tre đan và cỏ tế của Lưu Thượng đã thâm nhập vào các thị trường quốc tế như Đông Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản, song các cơ sở sản xuất tại đây vẫn đối mặt với nhiều khó khăn về mặt bằng sản xuất, vốn đầu tư, công nghệ chế tác lạc hậu, thiếu hụt nhân lực có chuyên môn kinh doanh quốc tế và hình thức xuất khẩu còn phụ thuộc nhiều vào trung gian.

Xuất phát từ quá trình thực tập thực tế tại Doanh nghiệp Guột Tế Xuất khẩu Hiền Lương tại làng nghề Lưu Thượng, tác giả đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp nhằm giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về làng nghề truyền thống và phân tích các đặc trưng kinh tế - kỹ thuật của mặt hàng mây tre đan, cỏ tế.
  2. Khảo sát, đánh giá toàn diện thực trạng tổ chức quản lý, năng lực sản xuất và tình hình xuất khẩu của làng nghề Lưu Thượng trong giai đoạn 2001–2005 (dự tính năm 2006).
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị đối với doanh nghiệp, chính quyền địa phương tỉnh Hà Tây và Nhà nước nhằm đẩy mạnh hoạt động sản xuất và xuất khẩu sản phẩm thủ công truyền thống trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động sản xuất kinh doanh và xuất khẩu mặt hàng mây tre đan của các doanh nghiệp tư nhân (DNTN), hộ gia đình (HGĐ) và hợp tác xã (HTX) tại thôn Lưu Thượng.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Làng nghề Lưu Thượng, xã Phú Túc, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây.
    • Thời gian: Giai đoạn 2001–2005 và số liệu dự tính năm 2006.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng lý luận kinh tế học Mác - Lênin và phương pháp luận duy vật biện chứng để xem xét sự phát triển của làng nghề trong mối quan hệ với quá trình CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn. Về mặt pháp lý và tiêu chí chuẩn mực, tác giả căn cứ vào:

  • Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/07/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn.
  • Quyết định số 1492/1999/QĐ-UB ngày 23/12/1999 của UBND tỉnh Hà Tây ban hành quy định tạm thời về 5 tiêu chí công nhận làng nghề công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp (CN-TTCN).
  • Các văn bản quy phạm liên quan của một số địa phương khác như Quyết định số 44/2005/QĐ-UBND của tỉnh Vĩnh Phúc và Quyết định số 1698/2006/QĐ-UBND của tỉnh Thừa Thiên - Huế.
  • Chỉ thị số 04/2005/CT-TTg ngày 16/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc trợ giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm: điều tra thực tế tại địa phương, thống kê mô tả, phân tích số liệu thứ cấp từ các báo cáo kinh tế - xã hội của HĐND và UBND xã Phú Túc, kết hợp phương pháp so sánh và tổng hợp kinh tế. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực tế tại Doanh nghiệp Guột Tế Xuất khẩu Hiền Lương cùng các cơ sở sản xuất DNTN, HGĐ, HTX trên địa bàn thôn Lưu Thượng.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát chung về làng nghề truyền thống Lưu Thượng, Phú Túc và sản phẩm làng nghề

Chương 1 trình bày lịch sử hình thành, đặc trưng thương phẩm và mô hình tổ chức quản lý của làng nghề:

  • Quá trình hình thành: Ông tổ nghề được ghi nhận là cụ Nguyễn Thảo Luân. Trước năm 1988, làng thuần nông. Năm 1988, sản phẩm thương mại đầu tiên ("chiếc giỏ đi chợ") ra đời. Năm 1989, người dân bắt đầu đan các sản phẩm bồ, thùng theo ảnh mẫu của khách. Giai đoạn 1990–1993, sản xuất theo mô hình HTX và xuất lô hàng đầu tiên sang Tiệp Khắc. Từ năm 1993, xuất hiện mô hình HGĐ và đến năm 1998 hình thành các DNTN. Cuối năm 1999, Lưu Thượng được UBND tỉnh Hà Tây công nhận là làng nghề truyền thống và làng văn hóa cấp tỉnh với 100% hộ dân tham gia nghề.

  • Đặc tính sản phẩm và nguyên liệu: Vật liệu đặc trưng là cây Guột (cỏ Tế) mọc tự nhiên ở vùng đồi núi nhiệt đới (còn gọi là Giàng Giàng, Cút, Khen). Cỏ tế được phân loại thành: tế dại (cứng, lõi nhỏ, dùng gây mê), tế khôn/tế sỏi (to tròn, ruột mềm, màu vàng nhạt hoặc nâu đỏ, phơi lên màu vàng cánh gián dùng đan hàng), tế ông/tế bà (kém phẩm chất). Ngoài ra còn kết hợp tre, nứa, mây, giang, cói, bèo tây, bẹ ngô. Quy trình kỹ thuật gồm 3 bước:

    1. Chọn lan công: Tính toán độ dài, đếm số lan công phù hợp với kích cỡ sản phẩm.
    2. Gây mê: Định hình khung nền sản phẩm từ tế dại cứng hoặc tế nguyên vỏ theo khuôn mẫu.
    3. Đan hàng và hoàn thiện: Đan tạo hoa văn, xử lý gọt dũa, nắn chỉnh, bện lan công, nhúng keo, phun dầu tạo độ bóng và chống mốc.
  • Cơ cấu tổ chức sản xuất: Tính đến năm 2006, làng nghề có 10 HGĐ (chiếm gần 60%), 6 DNTN và 1 HTX. DNTN có quy mô doanh thu trung bình 2,5–3 tỷ đồng/năm, xuất 3–4 container 40HQ/tháng; HGĐ đạt doanh thu bình quân 1,2 tỷ đồng/năm, xuất 1–2 container 40HQ/tháng.

  • Đóng góp kinh tế - xã hội: Năm 2005, thu nhập bình quân đầu người tại Lưu Thượng đạt khoảng 7 triệu đồng/năm (cao hơn mức bình quân 5,8 triệu đồng của cả nước). Mỗi DNTN thu hút trung bình hơn 500 lao động tại chỗ và khoảng 100 lao động vùng lân cận.

Chỉ tiêu lao động và thu nhập DNTN HGĐ HTX
Thu nhập lao động giản đơn (đồng/người/tháng) 480.000 480.000 480.000
Thu nhập lao động có trình độ (đồng/người/tháng) 1.000.000 - 1.500.000 800.000 - 1.200.000 800.000 - 1.200.000
Quy mô xuất khẩu bình quân (container 40HQ/tháng) 3 - 4 1 - 2 < 1

Chương 2: Thực trạng sản xuất và xuất khẩu sản phẩm thủ công truyền thống của làng nghề Lưu Thượng, Phú Túc

Chương 2 phân tích chi tiết dữ liệu thực tế giai đoạn 2001–2005:

  • Quy mô và giá trị sản xuất: Diện tích nhà xưởng của hầu hết cơ sở chỉ đạt khoảng 500 m². Dự án quy hoạch cụm công nghiệp làng nghề 7 mẫu chưa được giải phóng và bàn giao mặt bằng, dẫn đến tình trạng sản xuất phân tán tại hộ gia đình.
Phân loại cơ sở 2001 (Tỷ đồng) 2002 (Tỷ đồng) 2003 (Tỷ đồng) 2004 (Tỷ đồng) 2005 (Tỷ đồng) 2006 Dự tính (Tỷ đồng)
Doanh nghiệp tư nhân (DNTN) 12,48 14,89 17,80 19,45 22,71 28,22
Hộ gia đình (HGĐ) 7,21 8,30 8,14 8,78 10,39 11,55
Hợp tác xã (HTX) 1,21 1,51 1,65 1,96 1,89 2,22
Tổng cộng 20,90 24,70 27,60 30,20 35,00 42,00

Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân hàng năm đạt 13%–15%. Tỷ trọng giá trị sản xuất của khối DNTN liên tục tăng, từ 59,7% (năm 2001) lên 64,88% (năm 2005) và dự kiến đạt 67,19% (năm 2006).

  • Trình độ công nghệ và quản lý: Áp dụng kết hợp thủ công và nửa cơ khí (sử dụng máy chẻ nan, uốn song mây, cưa bào gỗ, uốn sắt mỹ nghệ, súng phun dầu). Máy móc phần lớn gia công nội địa hoặc thiết bị cũ nhập khẩu. Quản lý sản xuất mang nặng tính kinh nghiệm nông nghiệp; chủ cơ sở thiếu ngoại ngữ và chuyên môn ngoại thương, phụ thuộc hoàn toàn vào các hãng vận tải container nội địa. Năm 2004–2005 đã có 2 trường hợp doanh nghiệp bị phía đối tác Nga khiếu nại về tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa.
  • Chuyển dịch cơ cấu lao động: Tổng số lao động trong độ tuổi của thôn năm 2005 là 733 người. Lao động chuyển dịch rõ rệt từ nông nghiệp sang tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ:
Ngành nghề 2001 (Người) 2002 (Người) 2003 (Người) 2004 (Người) 2005 (Người)
Nông nghiệp 256 262 258 232 215
Tiểu thủ công nghiệp 341 367 386 415 430
Dịch vụ 43 51 64 71 88
  • Doanh thu và thị trường xuất khẩu:
Thị trường xuất khẩu 2004 (Tỷ đồng) Cơ cấu 2004 (%) 2005 (Tỷ đồng) Cơ cấu 2005 (%) Tăng trưởng 2005/2004 (%)
Tiệp Khắc 11,42 47,00 15,51 55,00 135,80
Bungary 9,96 41,00 8,46 30,00 84,91
Nga 2,92 12,00 4,23 15,00 145,06
Tổng doanh thu 24,30 100,00 28,20 100,00 116,05

Tiệp Khắc là thị trường tiêu thụ truyền thống lớn nhất, chiếm trên 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của làng nghề. Năm 2006, một số DNTN bắt đầu xuất khẩu thử nghiệm sang Hoa Kỳ và Nhật Bản (điển hình là DNTN Mây tre đan Phú Tuấn hợp tác với Công ty TNHH Văn Minh).

  • Hình thức xuất khẩu:
Hình thức thực hiện 2004 (Tỷ đồng) Cơ cấu 2004 (%) 2005 (Tỷ đồng) Cơ cấu 2005 (%)
Xuất khẩu qua thương nhân Việt kiều 14,27 58,72 15,45 54,78
Xuất khẩu ủy thác qua Công ty thương mại 9,79 40,30 12,46 44,20
Xuất khẩu trực tiếp cho khách nước ngoài 0,24 0,98 0,29 1,02

Chương 3: Một số giải pháp thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu sản phẩm truyền thống tại làng nghề Lưu Thượng, Phú Túc

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp 3 cấp:

  1. Nhóm giải pháp đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh tại Lưu Thượng:

    • Tái cơ cấu tổ chức quản lý, xóa bỏ thói quen điều hành tùy tiện theo mô hình kinh tế hộ; thành lập các bộ phận chuyên môn hóa (giao dịch đối ngoại, kiểm tra chất lượng - KCS).
    • Tuyển dụng lao động có trình độ đại học về ngoại ngữ, ngoại thương và tin học; tổ chức các lớp đào tạo tay nghề tại chỗ cho thợ đan.
    • Đầu tư cải tiến công nghệ sấy, chống mốc, tạo khuôn khung chuẩn xác nhằm nâng cao độ bền và tính đồng đều của sản phẩm.
    • Chuyển đổi dần từ hình thức xuất khẩu ủy thác/qua trung gian sang tiếp cận xuất khẩu trực tiếp; chủ động tham gia hội chợ thương mại quốc tế để nắm bắt thị hiếu.
  2. Nhóm giải pháp đối với chính quyền địa phương (xã Phú Túc và tỉnh Hà Tây):

    • Đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, triển khai dự án hạ tầng cụm công nghiệp làng nghề Lưu Thượng diện tích 7 mẫu để tạo mặt bằng sản xuất tập trung cho các DNTN.
    • Xây dựng vùng quy hoạch và cung ứng nguyên liệu cỏ tế, mây, giang ổn định; kiểm soát giá và chất lượng nguyên liệu đầu vào.
    • Xây dựng điểm trưng bày giới thiệu sản phẩm kết hợp phát triển mô hình tuyến du lịch làng nghề truyền thống của tỉnh Hà Tây.
  3. Kiến nghị đối với cơ quan quản lý Nhà nước:

    • Chính sách tín dụng: Tạo điều kiện cho các DNTN và cơ sở tiểu thủ công nghiệp tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi dài hạn từ Quỹ Hỗ trợ phát triển và các ngân hàng thương mại với mức thế chấp linh hoạt bằng tài sản hình thành từ vốn vay.
    • Xúc tiến thương mại: Bộ Thương mại, Cục Xúc tiến Thương mại tăng cường cung cấp thông tin thị trường, hỗ trợ kinh phí tham gia triển lãm quốc tế, xây dựng thương hiệu chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam.

Kết quả và đóng góp

  • Số liệu thực chứng cụ thể: Khóa luận tập hợp và hệ thống hóa chuỗi số liệu kinh tế hoàn chỉnh của làng nghề Lưu Thượng giai đoạn 2001–2005 (giá trị sản xuất đạt 35 tỷ đồng năm 2005; doanh thu xuất khẩu đạt 28,2 tỷ đồng; Tiệp Khắc chiếm 55% thị phần; xuất khẩu qua trung gian chiếm 98,98%).
  • Đánh giá thực trạng mô hình: Khẳng định vai trò dẫn dắt của khối DNTN (chiếm trên 60% giá trị sản xuất và kim ngạch xuất khẩu toàn làng), chứng minh tính tất yếu của việc chuyển dịch từ mô hình HTX sang mô hình DNTN trong kinh tế làng nghề.
  • Hệ thống giải pháp đồng bộ: Đưa ra các khuyến nghị thiết thực về giải phóng mặt bằng cụm công nghiệp 7 mẫu, xóa bỏ rào cản xuất khẩu gián tiếp và đào tạo nhân lực chuyên môn cho làng nghề nông thôn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát tập trung chủ yếu tại địa bàn một thôn (Lưu Thượng, xã Phú Túc); nguồn số liệu phản ánh thực trạng giai đoạn trước thềm hội nhập WTO (2001–2006). Khóa luận chưa đi sâu vào việc xây dựng mô hình định lượng đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh xuất khẩu.
  • Hướng mở rộng: Mở rộng khảo sát so sánh liên làng nghề trong toàn xã Phú Túc và huyện Phú Xuyên; nghiên cứu tác động thực tế của việc cắt giảm thuế quan và các rào cản kỹ thuật phi thuế quan (TBT) đối với hàng thủ công mỹ nghệ sau khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên các ngành Kinh doanh quốc tế, Quản trị kinh doanh, Kinh tế phát triển khi thực hiện đề tài về kinh tế làng nghề, xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.
  • Các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý địa phương tại Hà Tây (nay là Hà Nội) trong việc hoạch định chính sách quy hoạch cụm công nghiệp làng nghề, phát triển ngành nghề truyền thống gắn với xuất khẩu.

Câu hỏi thường gặp

1. Cây Guột (cỏ Tế) tại làng nghề Lưu Thượng có đặc điểm gì và phân loại như thế nào?
Cây Guột là loài thực vật mọc tự nhiên tại các vùng rừng nhiệt đới. Người dân Lưu Thượng phân chia thành: tế dại (rắn chắc, lõi nhỏ, dùng làm khung gây mê), tế khôn/tế sỏi (thân tròn đều, ruột mềm, màu vàng cánh gián khi phơi khô, chuyên dùng đan hàng) và tế ông/tế bà (loại cong vênh, kém phẩm chất).

2. Tỷ trọng các hình thức xuất khẩu của làng nghề Lưu Thượng trong giai đoạn 2004–2005 diễn ra ra sao?
Hoạt động xuất khẩu chủ yếu qua trung gian: xuất khẩu qua thương nhân Việt kiều chiếm tỷ trọng lớn nhất (58,72% năm 2004 và 54,78% năm 2005), xuất khẩu ủy thác qua các công ty thương mại chiếm 40,30% (2004) và 44,20% (2005). Xuất khẩu trực tiếp cho đối tác nước ngoài chiếm tỷ lệ rất thấp (0,98% năm 2004 và 1,02% năm 2005).

3. Thị trường tiêu thụ quốc tế lớn nhất của sản phẩm mây tre đan Lưu Thượng giai đoạn này là nước nào?
Thị trường lớn nhất là Tiệp Khắc, đạt doanh thu 11,42 tỷ đồng (chiếm 47% tổng doanh thu xuất khẩu của làng năm 2004) và tăng lên 15,51 tỷ đồng (chiếm 55% năm 2005).

4. Điểm nghẽn lớn nhất trong khâu tổ chức sản xuất tại Lưu Thượng là gì?
Điểm nghẽn lớn nhất là tình trạng thiếu mặt bằng sản xuất tập trung (diện tích xưởng chỉ khoảng 500 m², dự án cụm công nghiệp 7 mẫu chưa triển khai), buộc các cơ sở phải phân tán đơn hàng về từng hộ gia đình, dẫn đến tiến độ không đồng bộ và khó kiểm soát chất lượng kỹ thuật.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Thu Trang đã phản ánh bức tranh toàn diện về hoạt động sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mây tre đan, cỏ tế tại làng nghề Lưu Thượng giai đoạn 2001–2005. Công trình làm rõ vai trò chủ đạo của mô hình doanh nghiệp tư nhân trong tăng trưởng kinh tế địa phương, đồng thời chỉ ra các điểm nghẽn cốt lõi về công nghệ, mặt bằng và nghiệp vụ ngoại thương. Các giải pháp đề xuất mang tính hệ thống từ cấp độ vi mô (doanh nghiệp) đến vĩ mô (chính quyền tỉnh và Nhà nước), đóng góp tư liệu thực tiễn cho bài toán phát triển bền vững làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam.