Chương 1 giới thiệu đến người đọc những nội dung tổng quan về đề tài nghiên cứu, bao gồm: tính cấp thiết của đề tài, vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và những đóng góp của đề tài. Các nội dung này cho người đọc cái nhìn bao quát về đề tài nghiên cứu về rủi ro đặc thù. - Chương 2: Tổng quan lý thuyết và những nghiên cứu trước Chương 2 giới thiệu về cơ sở lý thuyết của đề tài bao gồm Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại cùng với hai mô hình định giá tài sản nổi tiếng và được ứng dụng rộng rãi là Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) và Mô hình 3 nhân tố Fama- French. Sau đó, đề tài giới thiệu các nghiên cứu thực nghiệm về rủi ro đặc thù được thực hiện dựa trên cơ sở là các mô hình lý thuyết.
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 3 giới thiệu về mô hình sử dụng trong nghiên cứu, các biến trong mô hình, các dữ liệu sử dụng và cách thức xử lý các dữ liệu thô đầu vào. Sau đó, đề tài trình bày về phương pháp nghiên cứu và quy trình thực hiện nghiên cứu để đạt được những mục tiêu đã đặt ra. - Chương 4: Kết quả nghiên cứu Sau khi chạy mô hình hồi quy, chương 4 trình bày các kết quả nghiên cứu đã đạt được bằng cách thực hiện theo phương pháp nghiên cứu và sử dụng dữ liệu như đã được trình bày trong chương 3. Trong chương 4, tác giả còn phân tích kết quả nghiên cứu và đưa ra những nhận định.
- Chương 5: Kết luận và kiến nghị Trong chương 5, tác giả tổng hợp các kết quả của đề tài nghiên cứu về rủi ro đặc thù, giải thích câu hỏi nghiên cứu. Bên cạnh đó, đề tài cũng nêu lên những mặt hạn chế và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo cho các nghiên cứu sau này. 6 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Nội dung Chương 2 giới thiệu về cơ sở lý thuyết của đề tài bao gồm Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại cùng với hai mô hình định giá tài sản nổi tiếng và được ứng dụng rộng rãi là Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) và Mô hình 3 nhân tố Fama-French. Sau đó, đề tài giới thiệu và tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm về đặc điểm của rủi ro đặc thù theo thời và mối quan hệ giữa rủi ro đặc thù và lợi nhuận cổ phiếu để làm nền tảng cho việc xây dựng phương pháp nghiên cứu ở chương sau.
Rủi ro và lợi nhuận a. Khái niệm Theo Lý thuyết danh mục đầu tư, lợi nhuận là thu nhập hay số tiền có được từ một khoản đầu tư. Để biết được hoạt động đầu tư có hiệu quả hay không, người ta dùng chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận để đánh giá. Tỷ suất lợi nhuận được tính toán là tỷ lệ phần trăm giữa thu nhập và giá trị khoản đầu tư bỏ ra.
Rủi ro là sự sai biệt giữa lợi nhuận thực tế và lợi nhuận nhà đầu tư kỳ vọng nhận được. Rủi ro của một tài sản tài chính được đo lường bằng mức độ dao động của tỷ suất lợi nhuận. Nghĩa là, mức độ dao động của tỷ suất lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn và ngược lại. Nói cách khác, độ phân tán của những mức tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng càng lớn thì rủi ro của tỷ suất kỳ vọng nhận được càng lớn.
Chỉ tiêu phương sai (variance) và độ lệch chuẩn (standard deviation) được sử dụng để đo lường rủi ro của tài sản tài chính. Các loại rủi ro Rủi ro bao gồm hai loại là rủi ro hệ thống và rủi ro đặc thù. 7 Rủi ro hệ thống là rủi ro chung cho tất cả các tài sản tài chính trên thị trường, do các những biến động xảy ra trong quá trình vận hành của nền kinh tế như biến động về tình hình kinh tế, cải tổ chính sách, thuế. hoặc những sự kiện có tác động đến phần lớn nền kinh tế.
Những rủi ro này gây ảnh hướng đến hầu hết các chứng khoán và không thể loại bỏ bằng cách đa dạng hóa danh mục đầu tư. Rủi ro đặc thù (rủi ro phi hệ thống) là rủi ro xảy ra riêng đối với từng tài sản tài chính, độc lập với các yếu tố mang tính chất hệ thống và ảnh hưởng đến toàn bộ các tài sản trên thị trường như tình hình kinh tế, chính trị. Rủi ro đặc thù có thể được loại bỏ bằng chiến lược đa dạng hóa danh mục đầu tư. Đo lường lợi nhuận và rủi ro Rủi ro và lợi nhuận của tài sản tài chính Trong đầu tư tài chính, người ta thường xem xét lợi nhuận kỳ vọng.
Lợi nhuận kỳ vọng chính là bình quân gia quyền của các lợi nhuận có thể xảy ra với trọng số là xác suất nhận được lợi nhuận. Tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng E(R) 𝑛 𝐸(𝑅) = ∑ 𝑝𝑖 𝑅𝑖 (2.1) 𝑖=1 Trong đó: - E(R): Tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng; - 𝑅𝑖 : Tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng trong trường hợp i; - 𝑝𝑖 : Xác suất nhận được 𝑅𝑖. Rủi ro của tài sản tài chính được đo lường bằng chỉ tiêu phương sai (variance) và độ lệch chuẩn (standard deviation): Phương sai của tỷ suất lợi nhuận (𝜎 2 ): 𝑛 𝜎 2 = ∑ 𝑝𝑖 [𝑅𝑖 − 𝐸(𝑅)]2 (2.2) 𝑖=1 Độ lệch chuẩn của tỷ suất lợi nhuận (𝜎): 8 𝑛 𝜎 = √∑ 𝑝𝑖 [𝑅𝑖 − 𝐸(𝑅)]2 (2.3) 𝑖=1 Ngoài ra, các nhà đầu tư cũng có thể dựa vào dữ liệu quá khứ để ước lượng phương sai. Khi đó, rủi ro được đo lường bằng độ phân tán của tỷ suất lợi nhuận xung quanh giá trị trung bình: ∑𝑛𝑖=1[𝑅𝑖 − 𝑅̅]2 2 𝜎 = (2.4) 𝑛−1 Trong đó: ̅ : Tỷ suất lợi nhuận trung bình; -𝑅 - n: Số lượng quan sát.
Rủi ro và lợi nhuận của danh mục đầu tư Trong đầu tư tài chính, nhà đầu tư thường ít khi dồn toàn bộ vốn đầu tư vào một tài sản duy nhất mà thường đầu tư vào nhiều tài sản tài chính khác nhau, hay còn gọi là danh mục đầu tư. Như vậy, danh mục đầu tư là sự kết hợp của hai hay nhiều chứng khoán hoặc tài sản khác nhau trong đầu tư. Vấn đề đặt ra là cách tính toán lợi nhuận và rủi ro của danh mục đầu tư có gì khác biệt so với cách tính toán lợi nhuận và rủi ro của một tài sản tài chính. Lợi nhuận kỳ vọng của danh mục đầu tư là trung bình có trọng số các lợi nhuận kỳ vọng của từng tài sản hoặc chứng khoán trong danh mục đầu tư.
Trọng số chính là tỷ trọng của từng loại tài sản hoặc chứng khoán trong danh mục đầu tư. Công thức tính toán lợi nhuận kỳ vọng của danh mục đầu tư như sau: 𝑁 𝐸(𝑅𝑝 ) = ∑ 𝑊𝑖 𝐸(𝑅𝑖 ) (2.5) 𝑖=1 Trong đó: - 𝐸(𝑅𝑝 ): Tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng của danh mục P; - 𝐸(𝑅𝑖 ): Tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng của tài sản i; - 𝑊𝑖 : Tỷ trọng của tài sản i; 9 Độ rủi ro của danh mục đầu tư không chỉ phụ thuộc vào độ lệch chuẩn của tỷ suất lợi nhuận của các tài sản riêng rẽ trong danh mục, mà còn phụ thuộc vào sự tương tác giữa tỷ suất lợi nhuận của các tài sản. Sự tương tác này được biểu diễn bởi tích sai (Cov) hay hệ số tương quan (𝜌). Phương sai lợi nhuận kỳ vọng của danh mục đầu tư: 𝑁 𝑁 2 𝜎𝑝 = ∑ ∑ 𝑊𝑖 𝑊𝑗 𝜎𝑖𝑗 (2.6) 𝑖=1 𝑗=1 - 𝑊𝑗 : Tỷ trọng của tài sản j; - N: Tổng số chứng khoán trong danh mục; - 𝜎𝑖𝑗 : Tích sai giữa tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng của tài sản i và j.
Hệ số tương quan giữa hai tài sản: 𝐶𝑜𝑣(𝑟𝑖, 𝑟𝑗 ) 𝜌𝑖𝑗 = (2.7) 𝜎 𝑖 𝜎𝑗 Trong đó: - 𝜎 𝑖 : Độ lệch chuẩn của tài sản i; - 𝜎 𝑗 : Độ lệch chuẩn của tài sản j. Theo đó: - Hệ số tương quan 𝜌 = 1: Lợi nhuận của hai tài sản tương quan thuận hoàn toàn với nhau. - Hệ số tương quan 𝜌 = 0: Lợi nhuận của hai tài sản hoàn toàn không tương quan với nhau. - Hệ số tương quan 𝜌 = −1: Lợi nhuận của hai tài sản tương quan nghịch hoàn toàn với nhau.
Thái độ với rủi ro Để xem xét thái độ của nhà đầu tư đối với rủi ro, người ta so sánh giữa số tiền chắc chắn tương đương (certainty equivalent – CE) với giá trị kỳ vọng của 10 khoản đầu tư. Số tiền chắc chắn tương đương là khoản lợi nhuận chắc chắn nhận được khi thực hiện đầu tư. - Nếu một người yêu cầu CE < giá trị kỳ vọng: Người đó ngại rủi ro (risk aversion). - Nếu một người yêu cầu CE = giá trị kỳ vọng: Người đó bàng quan với rủi ro (risk indifference).
- Nếu một người yêu cầu CE > giá trị kỳ vọng: Người đó thích rủi ro. Đối với những người ngại rủi ro, chênh lệch giữa giá trị kỳ vọng và CE chính là phần giá trị tăng thêm để bù đắp rủi ro (risk premium). Trong đầu tư tài chính người ta xem các nhà đầu tư như những người ngại rủi ro. Nghĩa là nếu có hai cơ hội đầu tư có cùng tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng, nhà đầu tư sẽ chọn cơ hội đầu tư nào có rủi ro thấp hơn.
Hay nói cách khác, nếu có hai cơ hội đầu tư có cùng mức rủi ro thì nhà đầu tư sẽ lựa chọn cơ hội đầu tư nào có tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng cao hơn. Do đó khi quyết định đầu tư, nhà đầu tư phải xem xét đến mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro. Có rất nhiều mô hình đưa ra nhằm mô tả mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro của tài sản tài chính. Theo Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại, phần rủi ro đặc thù của tài sản có thể loại bỏ khi thực hiện đa dạng hóa danh mục đầu tư.
Do đó, các nghiên cứu và mô hình đưa ra đều tập trung tìm hiểu mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro hệ thống của tài sản tài chính. Trong đó, các mô hình được sử dụng phổ biến gồm có Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) và Mô hình 3 nhân tố của Fama-French. Nội dung chi tiết các mô hình này được giới thiệu trong nội dung tiếp theo. Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại (Modern portfolio theory – MPT) Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại do Harry Markowitz phát triển vào năm 1952 đã đóng góp cơ sở lý thuyết quan trọng trong việc phân tích mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận.