CHƯƠNG 1 - GIỚI THIỆU Lạm phát và tăng trưởng kinh tế là hai trong những mục tiêu chính của chính sách kinh tế vĩ mô.Theo đó, các quốc gia thường có xu hướng kiềm chế lạm phát ở mức thấp nhằm thúc đẩy tăng trưởng và ổn định nền kinh tế. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là liệu việc kiềm chế lạm phát ở mức thấp có luôn tạo ra tác động tích cực đến tăng trưởng đối với tất cả các nền kinh tế tại bất kỳ thời điểm nào hay không. Hay là tồn tại một số điều kiện nhất định để việc áp dụng chính sách kiềm chế lạm phát ở mức thấp là phù hợp. Theo các nghiên cứu thực nghiệm gần đây, lạm phát và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ phi tuyến.
Theo đó, bắt đầu từ Fischer (1993), hàng loạt các nghiên cứu về mối quan hệ phi tuyến giữa lạm phát và tăng trưởng ra đời. Các nhà kinh tế học áp dụng các mô hình khác nhau đối với mẫu dữ liệu đa quốc gia để tìm ra mức ngưỡng lạm phát phù hợp, chia mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng thành hai ‘chế độ’ – ‘chế độ’ lạm phát tác động tăng trưởng kinh tế khi ở dưới ngưỡng và ‘chế độ’ lạm phát tác động tăng trưởng khi ở trên mức ngưỡng. Kết quả các bài nghiên cứu cho thấy lạm phát ở dưới mức ngưỡng có tác động thúc đẩy tăng trưởng trong khi lạm phát trên mức ngưỡng lại có tác động kìm hãm tăng trưởng. Drukker (2005) và Bick (2010) áp dụng mô hình ngưỡng của Hansen để tìm mức ngưỡng phù hợp đối với các nước đang phát triển.
Mức ngưỡng được tìm thấy lần lượt tại hai bài nghiên cứu là 19,2% và 12%. Tại Việt Nam, có nhiều bài nghiên cứu về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế. Các bài nghiên cứu này đã xác định sự tồn tại của mối quan hệ tương quan giữa lạm phát và tăng trưởng. Tuy nhiên, hầu hết các bài nghiên cứu này chưa xem xét tính phi tuyến trong mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng và chưa đo lường mức ngưỡng lạm phát tại Việt Nam bằng phương pháp định lượng.
Do đó, bài viết đặt ra câu hỏi về sự tồn tại ngưỡng lạm phát ở Việt Nam nói riêng và tại các nước đang phát triển nói chung. Từ đó, xem xét sự phù hợp của TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 chính sách kiềm chế lạm phát ở mức thấp nhất trong việc điều tiết kinh tế vĩ mô ở các nước đang phát triển. Để nghiên cứu về vấn đề này, bài viết áp dụng mô hình ngưỡng mở rộng của Hansen (1999) của tác giả Alexander Bick tại bài nghiên cứu “Threshold effects of inflation on economic growth in developing countries” (2010). Sử dụng dữ liệu của 74 nước đang phát triển giai đoạn 1993-2012, bài viết xác định ngưỡng lạm phát tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Tiếp theo đó, sau khi xác định sự tồn tại của ngưỡng lạm phát tại các quốc gia đang phát triển, bài viết kiểm định mối quan hệ phi tuyến giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam bằng việc áp dụng phương pháp nghiên cứu tương tự. Từ đó, bài viết tìm giá trị ngưỡng lạm phát tại Việt Nam và ý nghĩa của ngưỡng lạm phát trong việc hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô. Chương 2 của bài viết sẽ nêu lại các lý thuyết mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát theo các trường phái khác nhau. Tiếp theo đó, bài viết sơ lược qua các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ phi tuyến giữa lạm phát và tăng trưởng trong thời gian gần đây.
Chương 3 của bài viết nêu ra các phương pháp áp nghiên cứu áp dụng trong bài viết: các mô hình áp dụng, cách thức ước lượng mô hình; và, dữ liệu được sử dụng trong mô hình (phạm vi của dữ liệu, các biến cụ thể trong mô hình và bảng thống kê dữ liệu). Chương 4 đưa ra kết quả nghiên cứu đạt được và thảo luận các kết quả nghiên cứu đối với các quốc gia đang phát triển. Chương 5 xem xét tình hình tăng trưởng kinh tế và lạm phát tại Việt Nam những năm gần đây. Áp dụng mô hình ngưỡng mở rộng của Hansen (1999) lên dữ liệu Việt Nam giai đoạn 1993-2012 để kiểm định việc tồn tại ngưỡng lạm phát ở Việt Nam.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 Và cuối cùng, bài viết tổng kết các kết quả nghiên cứu đạt được và nêu lên các hạn chế còn tồn tại trong quá trình nghiên cứu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2 - TỔNG QUAN LÝ THUYẾT Chương 2 của bài viết sẽ sơ lược lại các lý thuyết và các nghiên cứu về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng trên thế giới và xem xét lại các bài nghiên cứu thực nghiệm tại trường hợp Việt Nam đã được thực hiện gần đây. Cuối cùng là phần câu hỏi nghiên cứu đặt ra sau khi tìm hiểu các bài nghiên cứu về quan hệ lạm phát và tăng trưởng. Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế Các lý thuyết cổ điển, tân cổ điển, Keynes, tân Keynes và lý thuyêt trọng tiền đều có đề cập đến mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng.
Theo lý thuyết cổ điển, trong ngắn hạn, tăng trưởng kinh tế và lạm phát không có tồn tại mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Cụ thể, theo phương trình của Fischer: P=M*V/T và phương trình Pigou: M=P*k*Y (trong đó M là khối lượng tiền tệ trong lưu thông, V là tốc độ lưu thông tiền tệ, T là tổng khối lượng các hàng hóa và dịch vụ được đem ra giao dịch, P là mặt bằng giá chung, Y là thu nhập quốc gia tính theo giá cố định và k là tham số quan hệ), tăng trưởng kinh tế được xác định từ các nhân tố thực (đã loại trừ yếu tố giá) trong khi giá cả được xác định từ khối lượng tiền trong lưu thông. Do đó, trong ngắn hạn, không tồn tại mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng. Tuy nhiên, các phương trình cổ điển nêu trên vẫn chỉ ra một quan hệ ngược chiều giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát ở tầm dài hạn, tức là khi các nhân tố sản xuất sẽ thay đổi theo đà phát triển của lực lượng lao động và tiến bộ công nghệ.
Các phương trình cổ điển trên thể hiện quan điểm của lý thuyết cổ điển cho rằng về dài hạn, nếu cung tiền và tốc độ lưu thông tiền tệ ổn định, một sự tăng lên của sản xuất do các nhân tố ngoại sinh sẽ làm giảm mặt bằng giá, và ngược lại. Theo lý thuyết tân cổ điển, các nhà kinh tế khẳng định tính trung lập của tiền tệ đối với tăng trưởng kinh tế và nguyên tắc phân tích tách rời khu vực thực khỏi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 khu vực tiền tệ của lý thuyết cổ điển. Các giả thuyết chính của mô hình tăng trưởng tân cổ điển gắn với lạm phát gồm : (i) Tiền tệ do Chính phủ chủ động phát hành; do đó cung tiền tệ là biến ngoại sinh ; (ii) Cầu tiền tệ chỉ để đảm bảo quá trình lưu thông hàng hóa và dịch vụ diễn ra thuận lợi. Cân bằng giữa cung và cầu tiền tệ được thực hiện thông qua điều chỉnh mặt bằng giá.
Theo đó, các nhà kinh tế học đã phát triển phương trình thể hiện giá cả như sau : M = k * Y * P hay P = M / (k*Y). Theo phương trình này, tương ứng với một thu nhập đã biết và một thói quen thanh toán đã có, mặt bằng giá chung sẽ tỷ lệ thuận với khối lượng tiền tệ trong lưu thông. Như vậy, cách xác định giá ở đây cũng tương tự như trong lý thuyết cổ điển; tức là ở tầm ngắn hạn, giá cả hoàn toàn phụ thuộc vào khối lượng tiền tệ, đồng thời không tồn tại quan hệ nhân quả giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát. Tuy nhiên, phương trình trên cũng cho thấy ở tầm dài hạn, giá cả có quan hệ âm với tăng trưởng kinh tế.
Một sự tăng lên của sản xuất sẽ kéo theo hiện tượng giảm giá nếu tổng cung tiền tệ không đổi; và ngược lại khi sản xuất giảm sút thì giá cả tăng lên. Lý thuyết tân cổ điển cho rằng chiều nhân quả đi từ tổng cầu tới giá; tức là giá được điều chỉnh liên tục cho đến khi đạt được cân đối cung cầu trên thị trường hàng hóa và dịch vụ. Theo lý thuyết Keynes, lạm phát và tăng trưởng không có quan hệ với nhau trong ngắn hạn và có quan hệ tương quan dương trong dài hạn. Theo đó, Keynes sử dụng phân tích cận biên của lý thuyết tân cổ điển, song bổ sung thêm hai biến ngoại sinh là tiền lương danh nghĩa và khối lượng tiền tệ trong lưu thông.
Trong đó, tiền lương danh nghĩa thường cố định và bị công đoàn gây áp lực phải đảm bảo căn cứ vào nhu cầu thực tế của người lao động và mức độ căng thẳng trên thị trường lao động và khối lượng tiền tệ trong lưu thông do các nhà lãnh đạo tiền tệ quyết định. Từ các giả thuyết ban đầu, Keynes xây dựng ba hàm quan hệ kinh tế vĩ mô, gồm hàm tiêu dùng, hàm đầu tư và hàm cân bằng tiền tệ; sau đó xây dựng thành một hệ mô hình để xác định đồng thời khối lượng sản xuất (tăng trưởng kinh tế) và mặt bằng giá chung (lạm phát). Tất cả các mô hình kinh tế vĩ mô của lý TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 thuyết Keynes truyền thống đều xem tiết kiệm là nguồn gốc của đầu tư và đầu tư là nhân tố quyết định quá trình sản xuất dài hạn. Ở tầm ngắn hạn, cấu trúc của hệ thống sản xuất và kỹ thuật sản xuất có thể được giả định là không đổi; nên sản xuất là hàm của số lượng việc làm, trong khi số lượng việc làm là biến ngoại sinh.
Điều này có nghĩa là số lượng việc làm càng tăng thì tốc độ tăng trưởng kinh tế càng cao. Mặt khác, lý thuyết Keynes cho rằng không phải tiền lương danh nghĩa mà chính là nhu cầu đặt hàng mà các doanh nghiệp mong chờ, hy vọng mới là nhân tố chính xác định số lượng việc làm. Trên thực tế, chính vì nhu cầu đặt hàng không đủ như các doanh nghiệp mong chờ nên mới có hiện tượng thất nghiệp. Vì vậy, việc hạ thấp tiền lương cũng không phải là phương thuốc giải quyết khó khăn này vì nó sẽ làm cho tổng cầu giảm đi; hậu quả là các doanh nghiệp sẽ dự báo nhu cầu đặt hàng tiếp tục giảm hơn, qua đó sẽ phải tiếp tục áp dụng biện pháp giảm tiếp số việc làm.
Tình trạng thất nghiệp sẽ lại gia tăng.