Chương 1: Cơ sở lý thuyết Chương2 : Kết quả nghiên cứu thực trạng Chương 3: Đề xuất và kiến nghị PHAN II: NOI DUNG VA KET QUÁ NGHIÊN CỨU CHUONG 1: CO SO LY THUYET 1. Lý thuyết về thuế thu nhập doanh nghiệp 1. Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp Tại Việt Nam, thuế thu nhập doanh nghiệp có nguồn gốc từ thuế lợi tức, là khoản trích nộp một phần lợi nhuận dé nộp thuế. Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đầu tiên tại Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 10/5/1997 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999 thay cho Luật thuế lợi tức.
Pháp luật Việt Nam không đưa ra khái niệm trực tiếp về thuế thu nhập doanh nghiệp mà đưa ra quy định về các yếu tố liên quan dé xác định thuế thu nhập doanh nghiệp như đối tượng chịu thuế,thu nhập chịu thuế, thuế suất. Hiện nay, thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam được quy định tại hệ thống các Luật, Nghị định, Thông tư, Văn bản hợp nhất về thuế thu nhập doanh nghiệp đang còn hiệu lực thi hành (Phụ lục 01). Thuế thu nhập doanh nghiệp (thu nhập doanh nghiệp) là loại thuế trực thu tính trên thu nhập nhận được của doanh nghiệp trong kỳ tính thuế (Luật thuế TNDN, 2013). Cụ thé hơn, thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) là thuế trực tiếp do co quan có thấm quyền áp dụng đối với lợi nhuận của các doanh nghiệp và phải nộp cho cơ quan thuế.
Điểm chính của lý thuyết này là áp thuế trên lợi nhuận mà doanh nghiệp tạo ra sau khi đã trừ đi các khoản chỉ phí, bao gồm cả thuế khấu trừ. Mức thuế có thê được thiết lập dưới dạng thuế cố định hoặc thuế biến đổi, tùy thuộc vào quy định của từng quốc gia (EBH, 2023). Các bài nghiên cứu cũng đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về thuế thu nhập doanh nghiệp. Trên cơ sở luận điểm biện chứng cho sự tồn tại của thuế TNDN thì có thé đồng nhất quan niệm về thuế TNDN là “Thuế thu nhập doanh nghiệp là thuế tính trên thu nhập chịu thuế của các doanh nghiệp trong kỳ tính thuế” (Lê Thị Minh Phượng, 2019).
Theo Đoàn Thị Thu Huyền, 2012 đồng quan điểm về khái niệm của thuế thu nhập doanh nghiệp “Thuế thu nhập doanh nghiệp là thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế của cơ sở, sản xuất kinh doanh trong kỳ”. Thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập thực tế của các doanh nghiệp sau khi đã trừ chi phí kinh doanh, lãi suất, chí phí, khấu hao và các khoản được phép khấu trừ khác (Lê Thị Thu Huyền, 2016). Thuế thu nhập doanh nghiệp còn được hiểu là loại thuế trực thu, thu vào phần thu nhập của các tổ chức kinh doanh nhằm đảm bảo sự đóng góp công bằng, hợp lý giữa các tổ chức sản xuất kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ có thu nhập, góp phần thúc đây sản xuất kinh doanh phát triển (Nguyễn Thị Mỹ Linh, 2017). Tóm lại, thuế thu nhập doanh nghiệp (Corporate Income Tax — CIT) là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của các doanh nghiệp từ hoạt động kinh doanh sau khi trừ đi các chi phí hợp lý và các khoản được phép khấu trừ.
Đây là một loại thuế trực tiếp mà các cơ quan thuế áp dụng đối với lợi nhuận hay thu nhập thu được từ hoạt động kinh doanh của các tổ chức, nhằm đảm bảo mức đóng góp công bằng, hợp lý từ các doanh nghiệp vào ngân sách quốc gia. Đặc điểm thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế thu nhập doanh nghiệp là thuế trực thu trên kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp nên nó mang đầy đủ những ưu nhược điểm của sắc thuế này, thưởng mang tính lũy tiến, đảm bảo công băng trong điều tiết, góp phần đảm bảo công bằng xã hội. Tuy là một sắc thuế trực thu song thuế TNDN không gây phản ứng mạnh mẽ cho đối tượng nộp thuế như thuế thu nhập cá nhân, vi nó mơ hồ đối với người chịu thuế. Thuế TNDN đánh vào thu nhập chịu thuế của cơ sở SX, KD bởi vậy mức động viên của NSNN đối với loại thuế này phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả kinh doanh cũng như quy mô lợi nhuận của doanh nghiệp.
Đối tượng nộp thuế là tất cả các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ,các doanh nghiệp, nhà đầu tư thuộc các thành phankinh tế khác nhau có lợi nhuận đều phải nộp thuế TNDN, đồng thời là đối tượng chịu thuế. Thuế thu nhập doanh nghiệp phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh và chỉ phát sinh khi doanh nghiệp có lợi nhuận Số thuế thu nhập doanhnghiệp phát sinh phụ thuộc vào thu nhập tính thuế của doanh nghiệp, chỉ doanh nghiệp có lãi từ kết quả sản xuất kinh doanh mới phải nộp thuế. Bên cạnh đó, thuế thu nhập doanh nghiệp cũng nằm trong các loại thuế được khấutrừ tại nguồn đối với lãi của các bên nước ngoài không có cơ sở thường trú nhưng có thu nhập tại trên lãnh thổ quốc gia. Thuế thu nhập doanh nghiệp khấu trừ trước thuế thu nhập cá nhân, thu nhập cá nhân nhận được từ hoạt động đầu tư vốn là phần thu nhập đượcchia sau khi trừ thuế thu nhập doanh nghiệp.
Do vậy, thuế thu nhập doanh nghiệp cũng có thé coi là một biện pháp quản lý thu nhập cá nhân. Nếu như thuế thu nhập cá nhân chỉ điều chỉnh cá nhân có thu nhập cao trong xã hội theo biểu thuế suất từng phan với nhiều mức khác nhau thì thuế thu nhập doanh nghiệp điều chỉnh mọi doanh nghiệp có thu nhập với mức thuế suất khá đồng nhất giữa các đối tượng. Người nộp thuế TNDN là tô chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế (sau đây gọi là doanh nghiệp), bao gồm: Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của Luậtdoanh nghiệp; luật đầu tư, Luật các tô chức tin dụng, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật chứng khoán, Luật dầu khí, Luật thương mại và các văn bản quy phạm pháp luật khác dưới các hình thức: Công ty cô phần; Công ty Trách nhiệm hữu hạn; Công ty hợp danh; Doanh nghiệp tư nhân; Văn phòng luật sư;Văn phòng công chứng tư; Các bên trong hợp đồng hợp tác kinh doanh; Các bên trong hợp đồng phân chia sản phẩm dầu khí; Xí nghiệp liên doanh dầu khí; Công ty điều hành chung. Don vị sự nghiệp công lập, ngoài công lập có sản xuất kinh doanhhang hóa, dich vụ có thu nhập chịu thuế trong tất cả các lĩnh vực.
Tổ chức được thành lập và hoạt động theo Luật hợp tác xã. Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài (sau đây gọi là doanh nghiệp nước ngoai) có co sở thường trú tại Việt Nam. Vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế thu nhập doanh nghiệp thường được coi là một phần quan trọng trong hệ thống thuế của một quốc gia, vì nó cung cấp nguồn tài chính quan trọng cho nhà nước. Thuế thu nhập doanh nghiệp là một nguồn thu thuế trực tiếp, góp phần quan trọng vào việc thu thu nhập cho ngân sách nhà nước.
Số tiền thu được từ thuế thu nhập doanh nghiệp đóng góp vào việc tài trợ các hoạt động của chính phủ, từ việc cung cấp các dịch vụ cơ bản như y tê, giáo dục đên việc đâu tư vào cơ sở hạ tâng và phát triên kinh tê. Thuê thu nhập doanh nghiệp cũng tạo ra một nguồn thu 6n định và đều đặn, giúp ngân sách nhà nước dự trữ và lập kế hoạch dai hạn. Sự 6n định này quan trọng dé chính phủ có thé dự đoán, lập kế hoạch nguồn lực cho các dự án và chính sách xã hội. Hơn nữa, việc thu thuế từ thuế thu nhập doanh nghiệp có thể thúc day sự phát triển kinh tế.
Khi doanh nghiệp biết rằng họ phải chịu trách nhiệm với việc đóng góp thuế, họ có thé tập trung vào việc quản lý tài chính hiệu quả hơn, khuyến khích sự đầu tư và phát triển. Tóm lại, thuế thu nhập doanh nghiệp không chi là một nguồn thuế quan trọng mà còn đóng vai trò trong việc đảm bảo nguồn thu 6n định, cân bằng cho ngân sách nhà nước, và thúc đây sự phát triển kinh tế. Thuế thu nhập doanh nghiệp đóng vai trò trong việc điều tiết thu nhập và đảm bảo công bằng xã hội thông qua cách thức ảnh hưởng đến cả lợi ích và trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội. Thuế thu nhập doanh nghiệp có thé áp dụng các mức thuế khác nhau tùy thuộc vào lợi nhuận của doanh nghiệp.
Điều này đảm bảo rằng những doanh nghiệp có lợi nhuận cao sẽ phải chịu mức thuế cao hơn, góp phần làm cân đối thu nhập xã hội. Đồng thời, việc áp dụng các chính sách khuyến khích đầu tư, hỗ trợ cho các doanh nghiệp ở các khu vực có hoàn cảnh khó khăn cũng là một cách để tạo ra sự cân băng trong xã hội. Ngoài ra, các quy định và chính sách liên quan đến việc áp dụng thuế cũng đặt ra những yêu cầu về việc báo cáo, minh bạch tai chính, giúp cải thiện quản lý và tuân thủ thuế của các doanh nghiệp. Việc này giúp xã hội có cái nhìn rõ ràng hơn về việc các doanh nghiệp đóng góp như thế nào vào nền kinh tế và cộng đồng.
Thuế TNDN không chỉ điều tiết thu nhập mà còn tạo điều kiện dé đảm bảo sự công bang xã hội, băng cách tạo ra các cơ chế, chính sách thuế dé mọi doanh nghiệp đóng góp theo khả năng và nhằm hỗ trợ những vùng kinh tế yếu thế. Thuế thu nhập doanh nghiệp không chỉ là một khoản thu thuế, mà còn là công cụ chiến lược dé khuyến khích và thúc đây sự phát triển kinh tế. Thông qua việc thiết lập các chính sách linh hoạt về thuế, chính phủ có thể tạo ra môi trường kinh doanh thú vị và hỗ trợ đầu tư trong các lĩnh vực chiến lược và địa bàn cu thé. Để đạt được điều này, chính sách giảm thuế hoặc miễn thuế có thể được áp dụng cho các ngành công nghiệp đặc biệt hoặc doanh nghiệp nhỏ và vừa, giúp họ cải thiện sản xuất và đầu tư.
Đồng thời, việc sử dụng phần thu nhập từ thuế thu nhập doanh nghiệp dé đầu tư vào cơ sở hạ tầng cũng tạo ra điều kiện thuận lợi, thu hút đầu tư và phát triển. Hỗ trợ đối với nghiên cứu và phát triển cũng là một phan quan trọng, việc giảm thuế cho hoạt động nghiên cứu và đổi mới có thé kích thích sự sáng tạo, đôi mới trong các lĩnh vực chiến lược.